Quan Đệ Ngũ Tuần Tranh
Tóm tắt chính
Tìm hiểu về Quan Đệ Ngũ Tuần Tranh - Ông Lớn Tuần Tranh, thống lĩnh thiên địa binh, thu chấp kim ngân tài mã, giải oan nghiệp sớ cho trần gia.

Danh hiệu: Quan Đệ Ngũ Tuần Tranh – Ông Lớn Tuần Tranh;
Sắc phong: Đệ ngũ tôn quan thượng đẳng tối linh thần – Đệ ngũ Tuần Tranh;
Phủ/ nơi cai quản: Thống lĩnh thiên địa binh, Thu chấp kim ngân tài mã, giải oan nghiệp sớ cho trần gia;
Trang phục: Áo Lam thêu rồng, Đeo hổ phù, Mạng Lam, Đai Lam.
Quan Lớn Tuần Tranh, còn được biết đến với tên gọi Quan Lớn Đệ Ngũ Tuần Tranh hoặc Ông Lớn Tuần Tranh, là một trong những vị Quan lớn trong hàng Ngũ Vị Tôn Quan. Ngài được tôn vinh như một vị tướng tài ba, nổi danh lẫy lừng, có trách nhiệm bảo vệ miền duyên hải sông Tranh và được nhân dân tôn kính phụng thờ. Với sắc phong Đệ ngũ tôn quan thượng đẳng tối linh thần, Quan Lớn Đệ Ngũ Tuần Tranh là một vị thần linh thiêng, cai quản thiên địa binh, giải oan nghiệp, thu tài tiếp lộc. Ngài được thờ phụng tại đền Ninh Giang (Hải Dương) và đền Kỳ Cùng (Lạng Sơn), với hai ngày lễ trọng đại là 14/2 Âm lịch (Đản sinh) và 25/5 Âm lịch (Ngày hóa).
Hình ảnh của Quan Đệ Ngũ nổi bật với bộ áo lam thêu rồng, hổ phù, cùng mạng và đai lam, thể hiện quyền uy và sự linh ứng của Ngài.
Đấng anh hào cổ kim lừng lẫy
Khắp mọi miền đã dậy thần cơ
Cửa sông đâu đó phụng thờ
Kỳ Cùng lại nổi đền thờ Tuần Tranh

Quan Đệ Ngũ Tuần Tranh
Thần tích Quan Lớn Tuần Tranh
Sự tích Quan Lớn Tuần Tranh vào thời Hùng Vương
Sự tích cho rằng Quan Lớn Đệ Ngũ Tuần Tranh là con trai thứ năm của Vua Bát Hải Động Đình, ngài giáng sinh dưới triều đại Hùng Định Vương trong Hùng Triều Thập Bát, tại một gia đình ở phủ Ninh Giang (Hải Dương). Ngài là một vị tướng quân tài ba, kiêm lĩnh thuỷ bộ và được giao quyền trấn giữ miền duyên hải sông Tranh. Tại đây, ngài đã lập nhiều công lao to lớn và được sắc phong công hầu. Tại quê nhà, ông có tình cảm với một người thiếu nữ xinh đẹp, vốn là vợ lẽ của quan huyện, nhưng không hạnh phúc trong cảnh “chồng chung”. Nàng cũng đáp lại tình cảm của ông mà không tiết lộ rằng mình đã có chồng. Quan Lớn Tuần Tranh vẫn tin rằng đó là một mối tình đẹp và hẹn ngày đưa nàng về làm vợ. Tuy nhiên, khi viên quan huyện phát hiện ra, ông đã vu oan cho ông về việc quyến rũ vợ mình. Quan Tuần Tranh bỗng nhiên mắc hàm oan và bị đày lên chốn Kì Cùng, Lạng Sơn. Tại đây, để chứng minh mình vô tội, ông đã tự sát và hóa thân xuống dòng sông Kì Cùng.
Tại quê nhà, ông hiện thành đôi bạch xà, thử lòng ông bà nông lão, và được ông bà nông dân nuôi nấng như con mình. Tuy nhiên, khi quan phủ biết chuyện, ông bà nông lão đã bị bắt phải lên cửa công chịu tội và đôi rắn cũng bị giết. Hai ông bà thương xót, xin thả rắn xuống dòng sông Tranh, lạ thay khi vừa thả đôi bạch xà xuống, chỗ đó lập tức tạo thành dòng xoáy dữ dội. Đến thời Thục Phán An Dương Vương, vua tập hợp thuyền bè để chống Triệu Đà ngay bến sông Tranh, nhưng tại chỗ dòng xoáy đó, thuyền bè không thể qua được và cơn giông tố nổi lên giữa dòng. Vua bèn mời các vị lão làng đến lập đàn cầu đảo thì ngay lập tức sóng yên bể lặng, hơn nữa, quân sĩ ra trận cũng giành được thắng lợi lớn. Ghi nhớ công đức, vua Thục đã giải oan cho ông và phong là Giảo Long Hầu. Sau này, ông còn hiển thánh linh ứng, có phép nhà trời, cai quản âm binh, ra oai giúp dân sát quỷ trừ tà, dẹp bỏ những kẻ hại nước hại dân.
Truyền thuyết khác về Quan Lớn Tuần Tranh
Theo truyền thuyết, tại khu vực Đền Ninh Giang ngày nay, có câu chuyện về một cặp vợ chồng nghèo ở làng Lạc Dục, huyện Tứ Kỳ, đã già mà chưa có con. Một hôm, người chồng cuốc vườn và bắt được hai quả trứng bên cạnh bụi cây, ngỡ là trứng chim nên đem cất cẩn thận. Không ngờ, hai quả trứng nở thành hai con rắn. Người vợ sợ hãi, định giết đi nhưng người chồng không đồng ý, cho rằng trời đã cho họ khuây khỏa trong cảnh già nua. Quả thật, hai con rắn quấn quýt với cặp vợ chồng. Một hôm, khi ông đang cuốc đất, một con rắn nhảy vào đùa nghịch và bị ông cuốc cụt đuôi (Về sau, khi linh ứng, dân làng lập miếu thờ, gọi là miếu Ông Cộc, Ông Dài). Tuy nhiên, hai con rắn ấy chỉ ăn gà, vì vậy ông già đã phải đi ăn trộm gà cho chúng. Khi sợ hàng xóm biết, ông đành phải vứt hai con rắn xuống sông Tranh. Chỗ vứt hai con rắn ấy về sau trở thành dòng xoáy dữ dội. Một hôm, có một công chúa muốn qua sông nhưng không thể vì nước xoáy dữ. Dân sở tại đã yêu cầu hai vợ chồng ông già đến hỏi chuyện. Bà lão sợ hãi, bèn lấy hai nắm cơm vứt xuống sông và nói rằng “con ơi, con có thương mẹ thì đừng nổi sóng nữa để mẹ khỏi tội”. Bà vừa nói xong thì sóng yên lặng.
Về sau, có một quan phủ tên là Trịnh Thường Quân được bổ về Ninh Giang. Ông lấy một người vợ lẽ rất đẹp. Một hôm, bà đi chơi thuyền trên sông Tranh, gặp một người dưới nước lên đòi lấy bà làm vợ. Bà nhất định không đồng ý. Đêm về, bà lại thấy người đó hiện vào phòng, nhất định đòi lấy. Bà đem chuyện này nói với quan phủ. Quan phủ cũng lấy làm lạ nên đã phòng giữ cẩn thận. Một hôm, ngài có việc quan đi vắng, khi trở về thì thấy buồng không có ai. Quan phủ rất phiền lòng, bèn từ chức và ngày ngày ra bờ sông Tranh tìm vợ. Sau đó, ông gặp một ông Tiên tên là Quỷ Cốc ở miền Hải Quốc mách rằng bà Phủ đã bị Hoàng tử thứ 5 của Vua Thủy bắt xuống làm vợ. Tiên Quỷ Cốc thương tình quan phủ nên đã giúp sức cho ông xuống được điện Vua Thủy và kêu, Tiên cũng kêu hộ. Sau đó, Vua Thủy cho cả hai vợ chồng về và bắt Hoàng tử thứ 5 đem đày ra sông Tranh. Từ đó, dân ở hai bên bờ thấy có nhiều điều kỳ dị nên lập đền thờ, gọi là đền Tranh. Dân quanh bến hoặc thuyền bè xuôi ngược qua đây nếu gặp sóng gió đều kêu cầu, sóng gió sẽ êm. Ai có cầu kiểu gì cũng đều linh ứng. Thỉnh thoảng, vào những đêm trăng sáng, có người trông thấy một thanh niên mũ áo từ trong đền đi ra. Người ta kháo nhau rằng đó là Quan lớn Tuần Tranh. Về sau, do có nhiều công giúp dân buôn thuyền, bán bè, qua sông bình an, may mắn, vị thần được tôn là: Quan “đệ ngũ Tranh Giang Hoàng hợp tôn thần”. Đền Tranh trở nên nổi tiếng linh thiêng, cầu việc gì cũng được như ý, do đó khách đến lễ ngày càng đông…
Văn kể về nỗi oan Quan Lớn Tuần Tranh
Nói về nỗi oan của Quan Lớn Tuần Tranh khi dâng văn có đoạn:
“Nào ngờ đâu đất trời thay đổi
Người anh hùng mang tội xiềng gông
Tháng năm đày chốn Kì Cùng
Oan vì tuyết nguyệt đổi lòng ái ân
Trước cung điện triều đình tra xét
Bắt long hầu truyền hết mọi nơi
Oan vì bướm lả ong lơi
Triết hoa đoạt vũ tội trời không dung
Lệnh viễn xứ sơn cùng thuỷ kiệt
Nỗi oan này có thấu cao minh
Áo bào đã nhuộm chàm xanh
Tấm thân bách chiến tử sinh lẽ thường”
Đền thờ Quan Lớn Tuần Tranh
Quan Lớn Tuần Tranh được thờ ở nhiều nơi, mỗi đền đều có ban Ngũ Vị Tôn Quan thờ ngài. Tuy nhiên, hai nơi nổi tiếng nhất phải kể đến là Đền Ninh Giang hay Đền Quan Lớn Tuần Tranh, được xây dựng bên bến sông Tranh ở Ninh Giang, Hải Dương (nơi chính quán quê nhà của ông, nơi ông trấn giữ duyên hải sông Tranh và cũng là nơi ông hiển tích) và Đền Kỳ Cùng, được xây dựng bên bến sông Kỳ Cùng, qua cầu Kỳ Lừa (nơi ông bị lưu đày).
Đền Tranh (Hải Dương)

Đền Tranh (Hải Dương)
Đền Tranh, tọa lạc bên sông Tranh, là nơi thờ Quan Lớn Tuần Tranh. Ngôi đền ban đầu chỉ là một miếu nhỏ, năm 1935 được dời vào làng Tranh Xuyên. Giữa thế kỷ XX, đền được xây dựng lớn hơn, theo kiểu Trùng thiềm điệp ốc. Năm 1946, đền bị tháo dỡ do kháng chiến. Những năm 60, đền được chuyển về phía bắc thị trấn Ninh Giang. Trải qua nhiều lần di dời và trùng tu, đền Tranh đã chứng kiến bao thăng trầm lịch sử. Năm 1852, đền được nhiều người góp công tu sửa. Khi Pháp chiếm đóng, đền lại phải chuyển đi. Từ 1941-1945, đền được xây dựng to đẹp, nhưng lại bị tháo dỡ năm 1946. Năm 1954, đền được dựng lại. Năm 1966, một phần đền phải chuyển đi lần nữa. Ngày nay, đền Tranh có tiền tế, trung từ, nghi môn, hậu cung, đông vu, nhà hóa sở.
Đền có ba mùa lễ hội: tháng 2 (ngày sinh Quan Lớn), tháng 5 (ngày hóa).
Cung thờ Quan Lớn Tuần Tranh tại Đền Tranh.
Đền Kỳ Cùng (Lạng Sơn)

Đền Kỳ Cùng (Lạng Sơn)
Đền Kỳ Cùng, nằm bên sông Kỳ Cùng, là nơi thờ Quan Đệ Ngũ Tuần Tranh. Năm xây dựng không rõ, ban đầu đền chỉ là một ngôi nhà nhỏ thờ thần Giao Long. Theo sách Đại Nam nhất thống chi, đền rất thiêng, đã được nhiều lần phong tặng. Đền xưa đã không còn tồn tại vì thời gian và chiến tranh. Ngày nay, đền được xây dựng theo kiểu chữ đinh. Ngoài Quan Lớn Tuần Tranh, trong đền còn thờ Tam tòa Thánh Mẫu, Trần triều Đại vương và Công Đồng Tử Phủ. Lễ hội chính của đền diễn ra từ ngày 22 đến 27 tháng Giêng âm lịch.
Hội đền Tranh có ngày mở tiệc đón, ngày đản sinh (14/2 âm lịch), ngày tiệc chính (25/5 âm lịch) và ngày giỗ (25/5 âm lịch).
Ngày khánh tiệc Quan Lớn Tuần Tranh
Ngày tiệc chính của quan là ngày 25/05 âm lịch (là ngày ông bị lưu đày và bảo nhân dân quê ông làm giỗ vào ngày này). Ngoài ra, vào ngày 14/02, các đền thờ ông cũng mở tiệc đón ngày đản sinh của quan.
Hầu giá Quan Lớn Tuần Tranh
Trong hàng Ngũ Vị Tôn Quan, cùng với Quan Lớn Đệ Tam, Quan Lớn Đệ Ngũ cũng là một vị quan lớn danh tiếng, được nhân dân tôn kính phụng thờ. Tuy ông được thỉnh cuối cùng trong hàng năm toà Quan Lớn, nhưng lại thường ngự về đồng nhất. Bất cứ ai hầu Tứ Phủ, trong bất cứ dịp lễ tiệc hay đàn tràng nào cũng đều phải thỉnh Quan Lớn Tuần Tranh về ngự.
Khi loan giá ngự đồng, ông mặc áo lam thêu rồng, hổ phù. Sau khi làm lễ tấu hương, khai quang, ngài chứng sớ tán đàn rồi múa thanh long đao. Khi có đại đàn mở phủ hay bất kỳ lễ tiệc nào, sau khi thỉnh các Quan Lớn về, đều phải đợi đến khi giá Quan Lớn Đệ Ngũ Tuần Tranh về chứng một lần hết tất cả các đàn mã sớ rồi mới được đem đi hoá.
Bản văn Quan Lớn Tuần Tranh thứ nhất
Đệ tử tôi khấu đầu củng thủ
Tiến văn chầu đệ ngũ Tuần Tranh
Uy gia lẫm liệt tung hoành
Trừ tà sát quỷ nên danh tướng tài
Cảnh thiên thai Quan Tuần giá ngự
Các bộ nàng tiên nữ dâng hoa
Ninh Giang chính quán quê nhà
Danh lam cổ tích ngự tòa ngôi cao
Đấng anh hào cổ kim lừng lẫy
Khắp mọi miền đã dậy thần cơ
Cửa sông đâu đó phụng thờ
Kỳ Cùng lại nổi đền thờ Tuần Tranh
Cảnh am thanh nhiều bề lịch sử
Vốn đặt bầy tự cổ dĩ lai
Có phen chơi chốn thiên đài
Đào, Lan, Quế, Huệ vui vầy xướng ca
Trên bát ngát Long, Xà, Hổ phục
Dưới tam đầu cửu khúc chầu lên
Lân rờn Phượng múa đôi bên
Thỉnh ông Đệ Ngũ ngự trên sập rồng
Sắc vua phong kiêm tri tam giới
Hay tróc tà sát quỷ trừ tinh
Quan Tuần vạn phép muôn linh
Quyền ông cai quản thiên binh nhà trời
Ngự đồng chơi minh quyền bóng quý
Nương uy trời thuỵ khí đoan trang
Quan Tuần hiển hách uy quang
Ra tay tế độ trần gian được nhờ
Lúc bấy giờ ra uy hùng hổ
Nương uy trời cứu độ sinh nhân
Đùng đùng nổi trận phong vân
Thượng đồng ban phép cứu dân trừ tà
Khắp gần xa bách quan đều phục
Ai có lòng hưởng phúc hà sa
Dù ai bệnh hạn không qua
Cầu quan Đệ Ngũ bệnh đà tan không
Nay dốc lòng ơn ông vạn bội
Hoặc ai mà nhầm lỗi truyền tha
Hay là cách trở giang hà
Cầm cờ chỉ núi núi đà tan không
Tiếng nức danh tung hoành dũng lược
Cảnh non bồng nước nhược bồng lai
Khi chơi bạn trúc bạn mai
Bàn loan tiệc ngọc vui vầy sướng ca
Các bộ nàng ra tay bẻ quế
Quan dạo chơi thành thị hồ tiên
Ba nghìn thế giới dư thiên
Tiếng Quan Đệ Ngũ khắp miền đông tây
Uy ra thổi gió thét mây
Phép ông ứng hiện đổ cây tốc nhà
Bốn phương hoà đội ơn đức cả
Ai có lòng hỉ xả từ bi
Phút thôi ông lại biến đi
Cưỡi tướng Bạch Hổ lên chầu thượng thiên
Khi cầm quyền còn đương tra sổ
Hay ông còn đổi sổ cho ai
Thiên binh văn võ gồm tài
Đức ông lịch sự đáng trai anh hùng
Đêm ngày giữ việc thuỷ cung
Đợi lệnh cửu trùng cứu trợ sinh nhân
Ai mà cầu nhân đắc nhân
Cầu phúc đắc phúc bản thân điều hoà
Kiên tri tam giới các toà
Ông về giáng ngự xướng ca điện tiền
Chữ thập biến làm chữ thiên
Phù hộ đệ tử thiên niên hoà hài
Một nguyện giáng phúc trừ tai
Đồng gia nam nữ ai ai thịnh cường
Hai nguyện buôn bán trăm đường
Tiền vàng lưu loát bạc vàng đề đa
Nguyện thứ ba công hầu cập đệ
Hộ tiểu tôi phú quý giầu sang
Bốn nguyện quốc phú dân an
Can qua ninh tỉnh dân an thái bình
Ông về linh giáng điện đình
Khuông phù đệ tử khang ninh thọ trường!
Bản văn Quan Lớn Tuần Tranh thứ hai
Việt sử chép Hùng triều thập bát
Cảnh địa linh Bạch Hạc Phong Châu
Dựng nền xã tắc dài lâu
Nhớ ơn tiên tổ đời sau giữ gìn
Vừa gặp hội bể yên sóng lặng
Triệu bách thần gia tặng phong công
Quan Tuần Tranh lẫm liệt oai hùng
Cứu dân hộ quốc nên công hàng đầu
Giảo Long hầu khâm ban sắc tứ
Trấn Ninh Giang thuỷ bộ chư danh
Bao phen đắp luỹ xây thành
Khắp miền duyên hải sông Tranh nức lòng
Tài cung kiếm sánh cùng võ tử
Đức kinh luân ví tựa Trương Tô
Phong lưu mã thượng giang hồ
Cung cầm dưới nguyệt con đò trên sông
Chí đã quyết ngoài vòng cương toả
Hay đâu là duyên nợ ba sinh
Buồng xuân thiếu bạn chung tình
Thoả lòng tráng sĩ tài danh phỉ nguyền
Thề non nước nên duyên kì ngộ
Bỗng đâu ngờ mắc nợ oan khiên
Tin đâu khẩn cấp ban truyền
Quan quân tầm nã khắp miền sông tranh
Có ngờ đâu đất trời thay đổi,
Người anh hùng cổ nặng xiềng gông.
Ngài bị bắt giam ở chốn Kỳ Cùng
Quan oan vì tuyết nguyệt, bởi lòng ái ân
Trước cung điện, triều đình tra xét,
Bắt long hầu chuyển khắp mọi nơi.
Ngài oan vì ong bướm lả lơi,
Chiết hoa, đoạt phụ tội trời không dung.
lệnh viễn xứ sơn cùng, thuỷ kiệt,
Nỗi oan này thấu tỏ hỡi cao minh.
Hoàng bào đã nhuộm chàm xanh
Tấm thân đành nhẹ, nhục vinh lẽ thường
Đường thiên lý quan san bỡ ngỡ
Hỏi trăng già có tỏ cho ai
Hỏi trăng hỏi gió hỏi trời
Hỏi rằng nguyệt lão trêu người vì đâu
Hỏi cây cỏ sao mưa dầu nắng dãi,
Vẫn vươn mình há ngại phong ba.
Cỏ cây ơi có thấu tỏ lòng ta,
Sơn cùng thuỷ kiệt sương sa lạnh lùng
Thà thác vinh còn hơn sống nhục,
Sông Kỳ Cùng tắm ngọc Côn Sơn
Kiệt Cùng hiu hắt trăng non
Sông Cùng trong đục nước tuôn đôi dòng
Ngẫm cảnh vật lòng đau như cắt
Nợ trần hoàn quyết dứt cho xong
Lòng riêng đã quyết với lòng
Mượn dây oan nghiệt cho xong tội trời
Rừng hoa cỏ thương người đã khuất
Bỗng đùng đùng gió giật mưa sa
Nỗi oan chuyển động đất trời
Dây oan kia biến thành đôi bạch xà
Đất Ninh Giang tìm nhà hữu phúc
Thử lòng người trong lúc lánh thân
Tháng hai vừa tiết trung tuần
Thử lòng ông lão mộng thần ứng ngay
Tỉnh giấc mộng mới hay sự lạ
Đôi bạch xà tựa cửa hai bên
Long xà kì dị thảo hiền
Từ khi xuất hiện vui thêm cửa nhà
Ba tháng sau đàn gà đã hết
Thương rắn hiền không biết lo sao
Khó khăn âu cũng tính liều
Ông bà nông lão sớm chiều đông tây
Bỗng một buổi tai bay hoạ rủi
Hai ông bà mắc tội cửa công
Lệnh nghiêm sấm sét đùng đùng
Tậu gà nuôi rắn không dung tội này
Lệ nuốt lệ đắng cay xiết kể
Thương rắn thần tựa thể thương con
Khấu đầu tạ trước công môn
Xin đem đôi rắn thả luôn giữa dòng
Cơn phong vũ ầm ầm nổi dậy
Sóng bạc đầu nước xoáy mênh mông
Long xà thoát xuống thuỷ cung
Nước rẽ đôi dòng cuồn cuộn chứa chan
Khắp duyên hải sấm ran từ đấy
Bóng long hầu nổi dậy nơi nơi
Những phường bán nước hại nòi
Gian tà quỷ quyệt tội trời không tha
Dìm đáy nước về toà thuỷ tộc
Tội gia hình bõ lúc sai ngoa
Lẽ thường tội báo oan gia
Hại nhân nhân hại sự đà không sai
Nước Văn Lang vào đời Thục Phán,
Giặc Triệu Đà có ý xâm lăng,
Triều đình ra lệnh tiến binh,
Thuyền bè qua bên sông Tranh rợp trời.
Bỗng nổi trận phong lôi bão táp
Ba quân đều sợ hãi khiếp kinh
Hỏi ra mới biết sự tình
Thiết bày hương án lễ trình bên sông
Mời trưởng lão trong vùng thôn xóm
Khấn vừa xong gió lặng sóng yên
Uy linh sự đã hiển nhiên
Lệnh truyền dân xã lập đền bên sông
Công hộ quốc gia phong thượng đẳng,
Tước phong hầu truy tặng Đại vương,
Bảng vàng thánh thọ vô cương
Hiếu trung tiết nghĩa đôi đường vẹn hai.
Gương anh hùng muôn đời soi tỏ,
Đất Văn Lang thiên cổ anh linh,
Bao phen đắp luỹ xây thành,
Khắp miền duyên hải, sông Tranh nức lòng.
Bản văn Quan Lớn Tuần Tranh thứ ba
Quyết mở đường dân an quôc thái
Dựng cơ đồ vạn đại cao sơn
Nhớ xưa tích cũ nhiệm màu
Quan Lớn Tuần trắc giá ngự đầu kim tinh
Tuổi niên thiếu đao binh yên ngựa
Sống vì đời thác trợ muôn dân
Sinh làm tướng thác làm thần
Dấu thiêng ghi để muôn dân phụng thờ
Gương đã tỏ soi đời càng tỏ
Trấn Ninh Giang vạn cổ anh linh
Bao phen đắp lũy xây thành
Khắp miền duyên hải sông Tranh nức lòng
Quan Lớn Tuần đánh Đông dẹp Bắc
Đã quyết lòng đánh giặc ghi công
Làm trai đáng mặt anh hùng
Sông Thương đột phá treo cung non Đoài
Gương anh khí sáng ngời muôn thủa
Chí hào hùng rạng rỡ non sông
Vinh quang thay nòi giống tiên rồng
Muôn dân ghi nhớ Quan Tuần ngài tài cao
Thơ:
Sông Tranh ơi hỡi sông Tranh,
Non nước còn ghi trận tung hoành,
Lẫm liệt oai hùng gương tráng sĩ,
Ngàn thu ghi để dấu oai linh.
Ai về qua bến sông Tranh,
Nhớ người tráng sĩ tài danh tuyệt vời.
Dẫu rằng nước chảy hoa trôi,
Sông Tranh dù cạn, ơn người còn ghi.
Loa đồng hỏi nước sông Tranh,
Long đao cứu nước, anh hùng là ai?
Sông Tranh đáp tiếng trả lời,
Có Quan đệ ngũ, chính người Ninh Giang
Nước sông Tranh đêm ngày vẫn chảy
Sóng tuôn trào cuồn cuộn về đâu
Chúng con nhớ người tráng sĩ lập lên công
Ngàn năm ghi nhớ Quan Tuần tài kiêu
Ngựa chiến xông pha đao thần ra trận
Sinh tử vì đời trung hiếu đạo vua tôi.
Khám phá thêm trong chủ đề Ngũ Vị Tôn Quan:
Xem tất cả bài viết trong chủ đề →Bài viết liên quan
Quan Lớn Tuần Tranh – Sự Thật Về Danh Tướng Cao Lỗ
28/5/2026
Đền Tranh tại Ninh Giang, Hải Dương là nơi thờ Quan Lớn Đệ Ngũ Tuần Tranh – vị Thánh nổi tiếng trong tín ngưỡng Tứ Phủ của người Việt. Trải qua nhiều thế kỷ cùng các lớp truyền thuyết dân gian, hình tượng Quan Lớn dần được nhiều nhà nghiên cứu liên hệ với danh tướng Cao Lỗ thời An Dương Vương – người có công xây thành Cổ Loa, chế tạo nỏ liên châu và lãnh đạo quân Âu Lạc chống ngoại xâm. Không chỉ là một di tích tâm linh linh thiêng, Đền Tranh còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa dân gian đặc sắc như hầu đồng, hát chầu văn, thơ phú cổ và những truyền thuyết gắn liền với lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Những Lời Phát Nguyện Và Huấn Đồng Trước Khi Bắc Ghế Hầu Thánh
25/5/2026
Những lời phát nguyện và huấn đồng trước khi bắc ghế hầu thánh - 3 điều sám hối, 5 giới định trong tín ngưỡng Đạo Mẫu.
Xoay Khăn Sau Khi Mở Phủ
25/5/2026
