Mẫu Đệ Tam Thuỷ Tiên
Tóm tắt chính
Tìm hiểu về Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ - Xích Lân Long Nữ Công Chúa, vị nữ thần cai quản miền sông nước trong hàng Tam Tòa Thánh Mẫu của tín ngưỡng Đạo Mẫu.

Mẫu Thượng Thoải – Xích Lân Long Nữ Công Chúa
Thánh Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ, hay còn được gọi là Mẫu Thoải, là một trong ba vị nữ thần quan trọng thuộc hàng Tam Tòa Thánh Mẫu. Bà là biểu tượng của sức mạnh trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt, chịu trách nhiệm cai quản các miền sông nước. Trong số các Thủy Phúc Thần trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, Mẫu Thoải được xem là vị Thần tối thượng. Theo quan niệm dân gian, Mẫu không chỉ là mẹ mà còn là người khởi nguyên, sáng tạo ra vạn vật. Do đó, Mẫu Thoải chính là người đã tạo ra mọi miền sông nước như biển, hồ, ao, đầm,… Bà hội tụ sức mạnh của mọi Thủy Thần, có quyền năng điều hòa gió, mưa và nguồn nước.
“Thỉnh mời Thánh Mẫu Đệ Tam
Xích Lân Long Nữ ngự miền Thoải Cung
Kính Xuyên sớm kết loan phòng
Thảo Mai tiểu thiếp ra lòng gieo oan
Kính Xuyên chẳng xét ngay gian
Vàng mười nỡ để lầm than sao đành
Lòng trời thương kẻ ngay lành
Xui quan Liễu Nghị nho sinh tìm vào…”

Mẫu Thượng Thoải – Xích Lân Long Nữ Công Chúa
Mẫu Thượng Thoải – Xích Lân Long Nữ Công Chúa

Thánh Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ
Thần tích Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ
Trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Tứ Phủ của người Việt, Tam Tòa Thánh Mẫu bao gồm ba vị nữ thần cai quản các miền khác nhau: miền trời (thượng thiên), miền rừng núi (thượng ngàn) và miền sông nước (thoải phủ). Thánh Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ là vị thánh thứ ba, coi sóc miền đồng bằng sông nước. Trên ban thờ Tam Tòa Thánh Mẫu, Mẫu Thoải thường được mặc xiêm y trắng, ngồi bên trái Thánh Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên. Tên gọi Thoải được đọc chệch từ chữ Thủy, có nghĩa là nước, và màu sắc của xiêm y trắng cũng tượng trưng cho nước, thế giới mà Mẫu cai quản.
Sự tích của Mẫu Thoải được ghi lại trong các bản văn mẫu, cùng với tác phẩm “Liễu Nghị truyền thư” (Truyện Liễu Nghị). Theo truyền thuyết, Thánh Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ là con gái của Vua Bát Hải Long Vương Thủy Quốc Động Đình. Theo lời vua cha, Ngài kết duyên với Kính Xuyên, con của Vua Đất. Một ngày, khi Kính Xuyên đi vắng, tiểu thiếp Thảo Mai đã âm thầm hãm hại Ngài bằng cách giả mạo thư từ, khiến Kính Xuyên hiểu lầm và đày Ngài lên rừng cho thú dữ ăn thịt. Tại nơi rừng sâu, Ngài không chỉ được thú rừng yêu quý mà còn tình cờ gặp được nho sĩ Liễu Nghị. Cảm thương trước nỗi oan của Ngài, Liễu Nghị đã mang thư của Ngài theo chỉ dẫn về đến Hồ Động Đình. Chàng dùng kim thoa gõ vào cây ngô đồng theo lời Ngài dặn, và ngay lập tức làn nước rẽ làm đôi, đưa chàng đến thủy cung. Tại đây, chàng đã kể hết sự tình và tình hình của Ngài cho vua cha. Sau đó, vua cha đã sai người đi đón và minh oan cho Ngài, đồng thời cho phép Ngài kết duyên với Liễu Nghị, cùng lúc trừng phạt Kính Xuyên và Thảo Mai. Dựa trên tích này, cùng với lòng tín ngưỡng của nhân dân đối với Thủy Tổ, Mẫu Đệ Tam đã được huyền hóa và tái hiện trong các triều đình phong kiến như bà Nguyễn Thị Châu (Châu Nương) ở Kỳ Anh, Hà Tĩnh thời Lê – Nguyễn với tôn xưng Mẫu Hàn Sơn.
Sau này, theo nhiều câu chuyện, Ngài thường hiển linh, phù hộ cho những người đi biển thoát khỏi sóng to gió lớn, từ đó được nhân dân tôn vinh và lập đền thờ ở khắp nơi, đặc biệt là tại các cửa sông, cửa biển. Khi xưa, ở chốn Động Đình, Ngài được gọi là “Động Đình Trung Công Chúa Ngọc Hồ Thần Nữ”, và về sau còn có danh hiệu “Bạch Ngọc Thủy Tinh Xích Lân Long Nữ Công Chúa”.
Cũng có thuyết cho rằng Ngài là con gái của Long Vương. Một ngày, Ngài gặp Kinh Dương Vương, lúc đó đang đi dạo tại hồ Động Đình. Kinh Dương Vương, con cháu của vị Thần Nông, đem lòng yêu mến và đã hỏi cưới Ngài. Sau đó, hai người đã sinh ra Lạc Long Quân, chính là cha Rồng, tổ tiên của người Việt. Ki Hồng Bàng thị trong phần Ngoại ký của Đại Việt sử ký toàn thư đã viết: “Kinh Dương Vương trị vì phương Nam, gọi tên là nước Xích Quỷ, Vua lấy con gái của Động Đình Quân tên là Thần Long, sinh ra Lạc Long Quân.” Trong Lĩnh Nam chích quái cũng kể thêm: “Kinh Dương Vương có tài đi dưới thủy phủ, lấy con gái của hồ Động Đình là Long Vương, sinh ra Sùng Lãm, hiệu là Lạc Long Quân.” Hay Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí – quyển VI phần nhân vật chí cũng coi Kinh Dương Vương là dòng dõi Thần Nông, vua khởi đầu nước Việt ta: “Khi trước cháu ba đời Thần Nông là Đế Minh, đi tuần thú ở biển Nam, gặp nàng Vụ Tiên rồi lấy làm vợ, đẻ con là Lộc Tục. Lộc Tục có Thánh Đức, Đế Minh yêu lắm, muốn lập là con nối, nhưng Lộc Tục cố nhường cho anh là Nghi; Đế Minh liền phong cho Lộc Tục ở đất Việt (miền nam), tức Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân, đẻ ra Lạc Long Quân.” Như vậy, ba bộ sử giá trị nhất của Việt Nam thời xưa đều đã ghi nhận rằng vợ của Kinh Dương Vương, tức Mẫu Thoải, chính là mẹ của Quốc Tổ Lạc Long Quân.
Dù nguồn gốc của Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ như thế nào, thì tựu chung lại cũng chính là cách mà người dân Việt Nam, nơi “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” tôn vinh vị thần của sông nước. Nói rộng ra, đó là cách con người vật chất hóa tình cảm của mình với tự nhiên, nhân hóa tự nhiên để tự nhiên gần gũi với đời sống con người, không chỉ trong sản xuất mà còn trong cả đời sống chiến đấu.
Sự tích bốn lần Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ hiển linh giúp nước
Lần thứ 1: Mẫu hiển linh giúp vua Lý Thái Tổ
Tương truyền, vùng Đồng Bằng Bắc Bộ thường xuyên xảy ra lũ lụt. Khi vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long, ông bắt đầu công việc trị thủy, kéo dài đến tận thời vua Lý Thái Tông mới cơ bản hoàn thành. Các đoạn đê được nối liền với nhau và có quy mô rộng lớn như ngày nay. Trong suốt quá trình xây dựng hệ thống đê, lũ lụt vẫn thường xuyên xảy ra, gây khó khăn cho nhân dân. Mẫu Thoải đã phái các thủy thần, tướng lĩnh của mình đến các làng ven Thăng Long để âm phù giúp dân đắp đê chống lụt. Thần tích này còn được ghi nhận tại các làng Nhật Chiêu, Quảng Bá, Tây Hồ, Yên Phụ,…
Lần thứ 2: Mẫu hiển linh giúp Trần Hưng Đạo
Khi quân Nguyên xâm lăng đất nước, vua Trần Nhân Tông triệu Hưng Đạo Vương phong làm Đại Nguyên Soái, cất quân đi dẹp giặc. Khi đi ngang qua sông Xâm Miện (khu đền Dầm), mặt trời vừa lặn, ông cho quân lính cắm trại dừng chân bên bãi sông còn mình thì ở lại trên thuyền.
Đêm đến, trong cơn mơ, ông thấy một người con gái mặc áo trắng, mang đai ngọc lưu ly cưỡi rồng vàng đến trước mặt và nói: “Thiếp là con gái Long Vương, là Thủy Tinh Ngọc Dung công chúa, được lệnh đến giúp ngài diệt giặc. Ngài hãy đem quân đuổi giặc, thiếp nguyện âm phù trợ giúp.” Tỉnh dậy, ông biết là mộng báo có người phù trợ, bèn xua quân đại chiến với giặc. Hai bên giao tranh ác liệt, gió bấc thổi lên, nước sông cuồn cuộn, sóng nổi ngập trời làm cho chiến thuyền của giặc bị nhấn chìm tả tơi.
Thắng trận trở về, ông tâu vua báo công và nêu rõ việc Ngọc Dung báo mộng. Vua đã sai sứ giải về Xâm Miện vào miếu (nay là đền Dầm) bái tạ và ban sắc phong:
“Hoàng Long tĩnh mạch, đoan trang
Anh linh Thục Diệu phu nhân Trung Đẳng Thần.”
Lần thứ 3: Mẫu hiển linh giúp vua Lê Thánh Tông
Tích này liên quan đến ngôi đền Hàn Sơn nổi tiếng tại Thanh Hóa. Tích xảy ra trong quá trình vua Lê đem quân đi đánh Chiêm Thành. Khi thuyền đi qua sông Lèn, họ gặp phải một trận cuồng phong. Vua bèn lập đàn tràng để cầu các vị thần phù trợ. Mẫu Thoải hay tin đã phái một nữ tướng đến trị. Ngay lập tức, sông yên, gió lặng. Sau khi thắng trận trở về, nhà vua nhớ công ơn, phong tặng cho Mẫu làm Thủy Phủ Thần Nữ tại đền Hàn Sơn. Từ đó, ngôi đền trở thành một trong những đền thờ Mẫu Thoải nổi tiếng nhất vùng.
Lần thứ 4: Mẫu hiển linh giúp vua Lê Thần Tông
Vào thời vua Lê Thần Tông, Mẫu Thoải hiển linh phù âm giúp dân chống lụt, xua đuổi thủy quái khi nhân dân gặp nạn nước sông Hồng dâng cao bất thường, tràn vào cả Yên Phụ. Nhà vua phải đích thân hành lễ Nam Giao (Lễ tế cáo trời đất) để cầu các vị thần linh phù trợ.
Đền thờ Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ
Mẫu Thoải được phối thờ tại hầu hết các ngôi đền thuộc Tứ Phủ cùng Tam Tòa Thánh Mẫu. Tuy nhiên, những ngôi đền thờ chính của Mẫu cũng rất nhiều, chủ yếu nằm gần khu vực các con sông lớn. Những ngôi đền nổi tiếng thờ Mẫu Thoải bao gồm đền Hàn Sơn, đền Dầm, đền Mẫu Thoải Long Biên Hà Nội, đền thờ Bà Áo Trắng, đền Mẫu Thoải Lạng Sơn, và đền Cái Lân Hạ Long.
Đền Hàn Sơn
Đền Hàn Sơn Phong Mục Mẫu Thoải tọa lạc tại làng Phong Mục, xã Châu Lộc cũ (nay là xã Triệu Lộc), huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa, bên dòng sông Lèn, tách ra từ Sông Mã, tạo thành một ngã ba sông với dòng nước chảy xiết giáp với 5 huyện: Hà Trung, Hoằng Hóa, Hậu Lộc, Vĩnh Lộc và Yên Định. Đây là nơi nổi tiếng với truyền thuyết “Đất Thanh kê ngũ huyện”, tức chỉ một tiếng gà gáy là nhân dân cả 5 huyện đều nghe. Đền Hàn Sơn gắn liền với truyền thuyết Mẫu Thoải Đệ Tam và Cô Bơ (hay Cô Ba) giúp tướng quân Lê Thọ Vực đánh quân Mạc xâm lược. Khu vực này còn có nhiều di tích lịch sử như đền Quan Giám Sát, đền Cô Tám, đền Cô Đôi…

Cổng Đền Hàn Sơn Phong Mục Linh Từ thờ Mẫu Thoải Đệ Tam Thanh Hóa
Cổng Đền Hàn Sơn Phong Mục Linh Từ thờ Mẫu Thoải Đệ Tam Thanh Hóa

Cung Mẫu Đệ Tam Thoải Cung áo trắng tại Đền Hàn Sơn Phong Mục
Sự tích Đền Mẫu Hàn Sơn gắn liền với Mẫu Đệ Tam Thoải Cung. Theo truyền thuyết ghi lại vào thời vua Lê Thánh Tông năm Hồng Đức (1460-1497), vùng biên ải Ba Bông “Rừng thiêng nước độc” với dòng sông Mã, sông Lèn được Thái Úy Lê Thọ Vực với chức “Sùng Quốc Công” cai quản. Trong lần giao tranh với quân Mạc, cả hai bên chưa phân thắng bại. Đêm hôm ấy, tướng quân đã nằm mơ thấy một người con gái mặc xiêm y trắng trên mây giáng xuống ngã Ba Bông, rẽ nước bước lên kiệu võng và nói: “Hãy lui quân về Nhị Sơn hạ thủy mà vây hãm, lên núi Thạch Bàn mà cầu Mẫu Thoải tất ứng linh.”
Biết mình đã được thánh thần trợ giúp, danh tướng dẫn quân xuôi về Chí Thủy (Thác Hàn Sơn bây giờ) dâng lễ cầu Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ rồi bố trí quân binh mai phục. Ứng báo của Mẫu cho kế phá giặc là lấp đá chặn dòng chờ thủy triều dâng, làm nghi binh nhử giặc vượt qua bãi đá ngầm. Khi nước thủy triều xuống thì tổng lực phản công, thuyền giặc rút chạy bị vấp vào bãi đá ngầm, lật nhào chìm đắm rất nhiều, quân mai phục đã đổ ra đánh úp, quân giặc chết nhiều vô kể và thất bại thảm hại, không còn dám quấy nhiễu nữa. (Dấu tích bãi đá ở Thác Hàn vẫn còn cho đến ngày nay).
Người con gái ngồi trên kiệu võng về báo mộng cho tướng quân Lê Thọ Vực đêm hôm ấy là con gái Ngọc Hoàng Thượng Đế (Công Chúa Mai Hoa), nay gọi là Cô Ba hoặc Cô Bơ Thoải Phủ Đền Ba Bông. Còn người báo mộng hiến kế để tướng quân phá giặc là “Đệ Tam Thủy Tiên Thánh Mẫu Bạch Ngọc Hồ Trung Xích Thủy Tân Xích Lân Long Nữ” hay còn gọi là Mẫu Đệ Tam, Mẫu Thoải, Mẫu Hàn Sơn đều là một. Sau đó, nhà vua đã cho nhân dân trong vùng lập đền thờ nằm trong cụm di tích danh lam thắng cảnh Đền Hàn Sơn Mẫu Thoải Phong Mục, Đền Ba Bông (còn gọi là Đền Cô Ba, Cô Bơ).

Chính điện Đền Hàn Sơn Phong Mục
Hiện nay có hai nơi thờ Mẫu Thoải Đệ Tam tại Thanh Hóa: Đền Hàn Sơn Phong Mục (hay Hàn Sơn Linh Từ) là Đền Chính thuộc làng Phong Mục, xã Châu Lộc cũ (nay là xã Triệu Lộc), huyện Hậu Lộc và Đền Hàn Sơn Hà Trung thờ vọng tại thôn Chí Phúc, xã Hà Sơn, huyện Hà Trung. Đền Hàn Sơn Phong Mục thuộc làng Phong Mục, xã Châu Lộc cũ (nay là xã Triệu Lộc), huyện Hậu Lộc đã được Nhà nước xếp hạng Di tích thắng cảnh cấp tỉnh năm 1994. Vào năm 2012, chính quyền và nhân dân huyện Hà Trung đã đại diện khởi công san lấp mặt bằng, xây dựng và trùng tu lại Đền Mẫu Hàn Sơn khang trang như ngày nay.

Cổng tam quan Đền Hàn Sơn Hà Trung Thanh Hóa
Lễ hội Hàn Sơn, xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa sẽ diễn ra từ ngày mùng Một tháng Sáu âm lịch đến ngày chính hội 12/6 âm lịch hàng năm. Sự kiện rước kiệu bóng cô Bơ từ Đền Ba Bông về chầu Thánh Mẫu Thoải Đệ Tam tại Đền Hàn Sơn Mẫu Thoải và rước cô Bơ về lại là hoạt động chính được người dân và du khách gần xa rất quan tâm. Từ trước đến nay, vào dịp lễ hội, trên bộ người kín như nêm, cờ súy rợp trời, dưới sông thuyền về như mắc cửi, đủ mọi sắc màu, chiêng trống rộn vang làm náo nhiệt cả một vùng núi sông, trời đất. Chính vì thế, có câu ca rằng:
“Dù ai buôn đâu bán đâu
Hội Hàn tháng sáu nhắc nhau cùng về
Dù ai buôn bán trăm nghề
Mười hai tháng sáu cũng về Hàn Sơn”.
Đền Dầm
Đền Dầm tọa lạc ở thôn Xâm Dương, xã Ninh Sở, Thường Tín, Hà Nội. Đây là ngôi đền nổi tiếng thờ Mẫu Thoải Phủ, gắn liền với tích Mẫu đã báo mộng phù trợ Hưng Đạo Đại Vương đánh thắng giặc ngoại xâm, được vua ban sắc phong tôn quý.

Gian chính điện Đền Dầm
Ngôi đền được xây dựng từ lâu đời, đã nhuốm màu lịch sử ngàn năm. Khuôn viên đền thoáng đãng với nhiều cây cổ thụ tỏa bóng mát cả sân đền, tạo nên không khí vô cùng dễ chịu.
Không chỉ thờ tự Mẫu Thoải, đền Dầm còn phối thờ nhiều vị thánh khác, trong đó có ngôi đền riêng thờ Hưng Đạo Vương nằm ngay trong khuôn viên đền.
Lễ hội đền Dầm được tổ chức vào dịp tháng 2 mỗi năm, bắt đầu từ mùng 1 và kết thúc vào ngày mùng 10. Trong suốt thời gian này, bên cạnh việc tổ chức những nghi lễ trang nghiêm theo truyền thống, dòng người cúng lễ cũng liên tục đổ về đền dâng hương bái thánh vô cùng tấp nập.
Đền Mẫu Thoải Long Biên
Đền Mẫu Thoải Long Biên tọa lạc tại địa chỉ số 21, tổ dân phố số 9, Bắc Biên, phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, Hà Nội.
Đền thờ Mẫu Thoải ở Hà Nội được xây dựng trên mảnh đất địa linh, có thế phong thủy vô cùng đẹp. Đền nằm ngay sát vị trí sông Hồng lại có lạch nước tự nhiên rộng. Khi mùa cạn đến, lạch này tạo thành hồ lớn tách biệt với dòng sông, tạo thế tụ thủy vô cùng đẹp.
Ngoài việc thờ chính Mẫu Thoải, đền còn đặt ban thờ Ngọc Hoàng cùng Nam Tào, Bắc Đẩu, Ngũ Vị Tôn Ông, các Quan Hoàng, Tứ Vị Vua Bà. Bên phải đền thờ Đức Thánh Trần, bên trái thờ Sơn Trang.
Các lễ cúng của đền tập trung vào dịp tứ quý: ngày mùng 10 tháng giêng, tháng tư, tháng bảy và tháng chạp âm lịch với nhiều tiết lễ lớn.

Đền Mẫu Thoải Long Biên
Đền Bà Áo Trắng Yên Bái
Đền thờ Bà Áo Trắng tọa lạc tại Thôn 3, xã Hợp Minh, thành phố Yên Bái.

Đền Bà Áo Trắng
Đền thờ Bà Áo Trắng nằm bên bờ sông Hồng, nơi ngã ba hợp lưu với Ngòi Lâu, đối diện bến Âu Lâu – di tích lịch sử cấp Quốc Gia. Ngôi đền là không gian sinh hoạt tín ngưỡng tâm linh vô cùng nổi tiếng của người dân địa phương. Hàng năm, vào dịp lễ đền, từ 25 đến 27 tháng 2 âm lịch, bên cạnh việc thực hiện các nghi lễ cúng tế truyền thống, các con hương từ khắp các tỉnh thành cũng đổ về đền dâng lễ cúng bái thánh mẫu, cùng chấp bái, chấp niệm cầu tài lộc, bình an cho gia quyến.
Đền Mẫu Thoải Lạng Sơn
Đền Mẫu Thoải Lạng Sơn tọa lạc tại địa chỉ số 177 đường Hùng Vương, phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn.

Đền Mẫu Thoải Cửa Đông, Lạng Sơn
Đền Mẫu Thoải Lạng Sơn, hay còn được biết đến với cái tên đền Cửa Đông, nằm cạnh sông Kỳ Cùng, trấn phía Đông thành phố Lạng Sơn. Năm 2013, đền đã được Bộ Văn Hóa Thể thao và Du Lịch công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia, nhằm tôn vinh những giá trị cả về tín ngưỡng tinh thần và vật chất nơi đền thiêng xứ Lạng.
Đền Cái Lân Hạ Long
Đền Cái Lân Hạ Long tọa lạc tại phường Bãi Cháy, Thành phố Hạ Long.

Cổng đền Cái Lân
Đền Cái Lân là địa chỉ tâm linh nổi tiếng không chỉ với người Quảng Ninh mà còn với nhiều du khách thập phương. Đền Mẫu nằm trong khuôn viên Cảng Cái Lân đã giúp cho người dân địa phương yên tâm làm ăn, được mệnh danh là ngôi đền “cầu được ước thấy”. Chính vì vậy, vào dịp Tết Nguyên Đán, Rằm tháng Giêng, Rằm tháng Bảy,… đền Cái Lân lại thu hút đông đảo du khách đến tham quan chiêm bái tấp nập.
Ngày khánh tiệc Thánh Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ
Ngày tiệc Mẫu Thoải là ngày 10 tháng 06 âm lịch, thường được tổ chức long trọng nhất tại Đền Mẫu Thác Hàn Sơn.
Hình ảnh tượng thờ


Bản văn Mẫu Thoải
Cung văn khi dâng văn về Mẫu Thoải chủ yếu được dùng để hát thờ vào những dịp tiệc đản thánh Mẫu có đoạn:
Trịnh Nam biên doành khuyên lai láng.
Nguyệt lầu-lầu sai rạng Nam minh
Vốn xưa Thủy quốc Động đình,
Có Tiên thánh nữ giáng xinh đền Rồng.
Đức gồm vẹn công dung ngôn hạnh.
Nét nhu mì vốn tính thiên nhiên;
Dung nhan khác giá Thần Tiên.
Đã đành lệ thủy chơi miền non côn.
Hằng chầu trực kim môn ngọc điện
Duyên sắt cầm chưa định nơi nao;
Chúa từ thời tiết thanh tao.
Giớ Đằng vương các thư trao dưới màn.
Dưới Thủy quan có nhà lệnh tộc.
Vốn con dòng danh ốc Kinh Xuyên;
Vốn xưa vây cánh nhà truyền.
Thao mai nàng ấy tạm quyền tiểu tinh.
Chí bình sinh phù đời giúp nước.
Ơn Cửu trùng phó thác bên giang;
Mảng danh Công chúa phi phương,
May nhờ lá thắm kết vương tơ hồng.
Trên Vương phụ có lòng lân mẫn,
Cho đôi người duyên phận sánh nhau;
Chúa từ kết ngãi Trần Châu.
Đã đành núi thẳm vực sâu khôn nài.
Kết duyên hài trăm năm phối thất.
Đạo cương thường nhiệm nhặt tóc tớ;
Cùng nhau chưa mấy nắng mưa.
Bỗng đâu ra sự thiên cơ quải người.
Trách Thao Mai ra lòng giáo giở.
Giả đầu thư làm cớ gieo oan.
Kinh Xuyên chẳng xét ngay dan.
Giá vàng nỡ để lầm than bao đành.
Trên dương thế một mình vò võ.
Sớm khuya cùng núi cở ngàn cây;
Đèn trăng chiếu đá màn mây.
Dưỡng thân hoa cỏ, bạn bày trúc mai.
Thường vãng lai thanh sơn tú thủy,
Lốt đại sà tượng thể ngư long;
Có khi biến tướng lạ lùng.
Mày ngài yểu điệu má hồng phi phương.
Có phen nhớ gia-nương dòi-dọi.
Mặt rầu rầu dạ rối châu sa;
Có khi nương bóng hằng nga.
Tưởng bề phu phụ xót xa muôn phần.
Có phen trách lòng quân bội bạc.
Nghe ai làm chếch-mác duyên ai!
Có phen liễu ủ đào phai.
Phận đành nước chẩy hoa chôi lỡ làng.
Có phen tưởng giáy sương giãi nguyệt.
Bảo than phàm mong quyết về không;
Có phen giãi nắng non sông.
Tưởng về nhiều nỗi hình dong võ-vàng.
Bốn bề những hổ lang ác thú.
Vật đều cùng mến Chúa hôm mai
Đua nhau trăm giống ngàn loài.
Dâng hoa cúng quả chẳng nài công phu
Vẹn mười thu giãi giàu sương nắng
Tin cá chìm nhạn vắng khôn hay;
Tấc niềm nhiều nỗi riêng tây.
Ai ngờ con Tạo vẫn soay cớ trời.
Trên dương thế có người ho-sĩ.
Văn tú tài Liễu Nghị là tên;
Trẻ thơ nhờ âm xuân huyên,
Sôi kinh nấu sử hằng chuyên việc mình.
Thời gặp thuở thần-kinh hội-thí,
Dậm đường trường Liễu Nghị bước ra;
Vũ môn mong nhảy đợt ba,
Ai ngờ con Tạo sui ra quải người.
Bây giờ đã tới nơi non quạnh,
Ác ban tà sương lạnh trời hôm;
Bốn bề hoa cỏ xanh um,
Trước ngàn liễu ủ, sau chòm đào phai.
Lòng quân tử đeo đai cảnh vật,
Thấy Chúa ngồi tư cách dung nhan;
Má hồng châu lệ chứa chan,
Nỉ non hòa nói hòa than một mình.
Chàng trông thấy tâm tình cảm cách,
Chúa ngập ngừng nhủ khách rằng cây:
“Sơn lâm rừng vắng chốn này,
Cớ sao quân tử tới đây lạc loài?
Ngày hồ đã trăng soi ác lặn,
Chàng hãy còn thơ thẩn cớ sao?”
Thưa rằng: “hàn sĩ chí cao,
Mười năm đèn sách công lao chuyên cần;
Hội khoa xuân hiềm chưa gặp gỡ,
Tưởng duyên này cắc cớ vì đâu?”
“Dám xin kết ngãi trần châu,
Kẻo lòng quân tử gieo cầu dưới trăng>”
Chúa nghe nói dùng-dằng khôn siết,
Đoái nhủ chàng”Cả quyết sao nên?
ta nay người dưới Thủy Tiên,
Nghiêm từ sớm định kết duyên dai -kỳ.
Khăng khăng giữ đạo tùy sau trước,
Chẳng ngờ chàng tính nước lòng mây”;
“Bỗng không bốc lửa bỏ tay,
Gieo oan một phút bắt đầy mười đông.
Cạy quân tử tin thông họa nả.
Sự duyên này dám há đơn sai.”
Chàng rằng: “Nguyện được như lời,
Đã đành bể rộng sông dài quản đâu”.
Nhờ đèn nguyệt đêm thâu bóng thỏ,
Giãi tấc lòng núi cỏ non xanh;
hàn-lâm nghe mảng tiếng kềnh,
Kim-ô bóng đã lộ hình ra đâu.
Chúa hiềm nỗi bấy lâu oan ức,
Phó kim thoa một bức thư phong.
VẬY CÓ THƯ RẰNG:
Nữ tiên thủ bút, con bái lạy vua quan: thân nữ nhi phận gái hồng nhan; đã sinh cửa quyền môn quý tộc. Tam niên dưỡng dục; phụ tử tình thâm. Khi cả khôn duyên bén sắt cầm; khăng khăng giữ tòng phu cho phải đạo. Trách bà Nguyệt lão; khéo quải duyên ai! Vì tiểu tinh là cái Thao-Mai; Đầu thư giả làm ra oan trái. trách chàng cả dạ; nghe đứa tà dan. Bảo cho con nết ở đa đoan, đem đầy chốn rừng xanh núi cỏ. Một mình vò võ, nào có ai hay. Ngày gió đưa làm bạn với cỏ cây; đêm trăng bạc biết cùng ai năn nỉ. Bỗng đâu nho sĩ, bước đến thẩn thơ. Nguyệt ta-tà thẫn-thẫn thờ-thờ; Nghĩ nông nỗi dừng chân lỡ bước. Trước sau sau trước, mượn bút thay lời. Chiếc thoa tin với bức thư này; dẫu nghìn dậm công lênh đừng có tiếc. vu oan một tiếng, vắng vẻ mười đông. Sự soay vần đã có thiên công; thư một bức đôi vừng nhật nguyệt. Sự tình con xin kể hủy chung.
Nhủ chàng ra mãi bể Đông,
Tới đâu là bóng ngô-đồng cây cao;
lấy kim thoa gõ vào cây ấy,
Dưới Thủy tề nghe thấy chẳng lâu;
Phòng khi ứng hiện nhiệm mầu,
Hẹn chàng thưa gửi gót đầu đinh ninh.
Chàng quân tử tâm tình sau trước,
Dạ ngùi ngùi chân bước đường thông;
Bể nào lai láng xa trông,
Nửa nỗi Chúa, nửa mòng sự duyên.
Sông vân hán bằng miền Thủy phủ.
Tới ngô-đồng tay gõ một thôi;
Tự nhiên nổi trạn phong lôi,
Giữa dòng nước chảy có đôi bạch xà.
Chàng trông thấy sự đà ứng hiện,
Mới hay lời Chúa phán phân minh;
Bạch sà thoắt xuống Động đình,
Bách quan rẽ nước giàng xanh rước chàng.
Rước chàng xuống đèn vàng Thủy phủ,
Thấy triều thần văn võ đôi bên;
Tiêu thiều nhạc táu dưới trên,
Tả biên ngư mục, hữu biên bạch sà.
Kim quy sứ vào tòa ngọc bệ,
Mới phán đòi Liễu Nghị vào trong;
Chàng bèn dâng bức thư phong,
Phụ vương trông thấy trong lòng quặn đau.
Trách Kính Xuyên cơ cầu độc dữ,
Mới đòi chàng Hoảng tử Xích Lân;
Phán rằng: Chúa phải gian truân,
Con vua rước xuống Thủy cung chớ chày
Lời Bương phụ phán ngay lập tức,
Sai các quan hết sức thần thông;
Chiêng kêu, cờ phất, trống rung,
Khắp hòa thế giới đều cùng mênh mông,
Bốn phương trời mưa rong chớp giật,
Quỷ cùng tờ giéo giắt mọi nơi;
Rước Chúa về tới long ngai,
Tội Kính Xuyên với Thảo Mai luận đầy,
Công cán này ai bằng Liễu Nghị,
Sắc phong làm Quốc-tế Thuy quan;
Chàng từ bái lệnh thiên nhan,
Duyên ưa phận đẹp sắc ban trọng quyền.
Duyên thiên công bày yên thuở trước,
Người phàm trần lại được bén tiên;
Chàng từ kim cải kết duyên,
Có cơ trí tuệ, có quyền anh linh
Dầu ai có bệnh cùng khí huyết,
Lập đàn len Chầu hát lại tha,
Dầu ai dâng tiến hương hoa,
Tiền tài lưu loát, cửa nhà khang ninh.
Dầu ai ai dốc lòng thành phụng bái,
Phúc đến nhiều lộc lại đề đa;
Toàn gia con cháu vinh hoa,
Mãn đường phu quý trẻ già bình an.
Chữ rằng: Thánh giáng lưu ân!
Thần giáng lưu phúc, thiên xuân thọ trường!
Khám phá thêm trong chủ đề Tứ Phủ Thánh Mẫu:
Xem tất cả bài viết trong chủ đề →Bài viết liên quan
Những Lời Phát Nguyện Và Huấn Đồng Trước Khi Bắc Ghế Hầu Thánh
25/5/2026
Những lời phát nguyện và huấn đồng trước khi bắc ghế hầu thánh - 3 điều sám hối, 5 giới định trong tín ngưỡng Đạo Mẫu.
Xoay Khăn Sau Khi Mở Phủ
25/5/2026
Xoay khăn sau khi mở phủ - giải đáp thắc mắc về việc xoay khăn trong tứ phủ cho các đồng tân linh mới.
Mộc Ân Thanh Đồng Dẫn Trình Nghi Thức
25/5/2026
Mộc ân thanh đồng dẫn trình nghi thức - tài liệu sưu tầm về nghi thức dẫn trình thanh đồng trong tín ngưỡng Đạo Mẫu.
