Mẫu Đệ Nhị Địa Tiên – Mẫu Thượng Thiên – Mẫu Liễu Hạnh
Tóm tắt chính
Tìm hiểu về Thánh Mẫu Liễu Hạnh - Mẫu Đệ Nhị Địa Tiên, một trong Tứ Bất Tử, vị thần chủ tối linh của Đạo Mẫu Việt Nam, được tôn là Mẫu Nghi Thiên Hạ.

Liễu Hạnh Công Chúa là một trong những vị Nữ Thần quan trọng nhất trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Ngài được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau: Bà Chúa Liễu, Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Liễu Hạnh, hoặc đơn giản là Thánh Mẫu ở nhiều khu vực thuộc miền Bắc.
Truyền thuyết dân gian Việt Nam cho rằng Thánh Mẫu Liễu Hạnh là một trong bốn vị Thánh Tứ Bất Tử, bên cạnh Tản Viên Sơn Thánh, Phù Đổng Thiên Vương và Chử Đồng Tử.

Mẫu Thượng Thiên – Liễu Hạnh Công Chúa
Mẫu Thượng Thiên – Liễu Hạnh Công Chúa
Các vị thánh đầu tiên đều xuất hiện vào thời vua Hùng thuộc vương triều Văn Lang, trong khi Thánh Mẫu Liễu Hạnh lần đầu xuất hiện vào năm 1434, thời vua Lê Thái Tông, vị hoàng đế thứ hai của triều Lê nước Đại Việt, trị vì từ năm 1433 đến 1442.
Thánh Mẫu Liễu Hạnh biểu trưng cho cuộc sống tinh thần, đức hạnh và trí tuệ. Ngài được coi là một vị Thánh linh thiêng nhờ khả năng kết nối các quyền lực: quyền lực Phật giáo, khi Mẫu quy y cửa Phật và trở thành Mã Vàng Bồ Tát; quyền lực Đạo giáo, khi Mẫu được xem là con gái thứ hai của Ngọc Hoàng Thượng Đế; và quyền lực Vương triều, khi Mẫu được các triều đại phong kiến từ thời Hậu Lê đến thời Nguyễn cấp nhiều sắc phong, tôn vinh là “Mẫu Nghi Thiên Hạ – Mẹ của muôn dân”, “Chế Thắng Hoà Diệu Đại Vương”,…
Thần tích Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh
Theo tư liệu lịch sử
Theo văn bia Phủ Nấp của cụ giáo Du
Trong bản chép văn bia Phủ Nấp của cụ giáo Du (người thôn Vọng, xã Đại Đồng, huyện Ý Yên), có một bia với tiêu đề Quảng Cung Linh Từ bi ký. Văn bia này do ông Nguyễn Đình Việp (lúc đó là Tri huyện Đại An) soạn năm Cảnh Hưng thứ 2 (1741), nói về ba lần giáng sinh của Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh như sau:
Lần giáng sinh thứ nhất, tiền thân của Phạm công ở xã Trần Xá (Tràn) ở Đại An là phó sứ có tội. Thượng đế xét lòng thành cầu khấn của ông bà Phạm công, mới cho con gái thứ hai là Công chúa Hồng Liên giáng sinh vào nhà ấy vào giờ Dần ngày 06 tháng 03 niên hiệu Thiệu Bình năm đầu (1434), đặt tên huý là Tiên Nga, lớn lên tài sắc kiêm toàn, phụng dưỡng cha mẹ trọn đạo. Ngày 02 tháng 03 năm Quý Tỵ (1473) niên hiệu Hồng Đức thì hoá về trời đang tuổi 40. Dân sở tại nhớ ơn cứu bệnh giúp người nghèo, bèn lập đền thờ khói nhang tưởng mộ.
Lần giáng sinh thứ hai, ngài giáng tại thôn Vân Cát xã Yên Thái, vào nhà họ Lê có tên là Thị Thắng, lấy chồng người trong xã là Trần Duy Đào, sinh được một trai tên là Duy Nhâm. Kể từ ngày Giáp Dần tháng Giáp Thìn niên hiệu Thiên Hựu năm đầu (1557), đến ngày 3 tháng 3 niên hiệu Gia Thái thứ 5 (1577), vừa tuổi 21, thì mất.
Lần giáng sinh thứ ba, ngài giáng xuống xã Tây Mỗ huyện Nga Sơn vào giờ Dần ngày 10 tháng 10 năm Khánh Đức thứ 2 (1650) tái hợp với Đào Lang sinh được một trai là Cổn, đến ngày 5 tháng 2 năm Cảnh Trị thứ 6 (1668), trải qua 19 năm mới trở về Đế sở. Từ đó, Mẫu tuỳ nghi du ngoạn hoặc Đông Đô hoặc Lạng Sơn, ra oai cùng sỹ tử, tác phúc với lương dân,…
Theo Quảng Cung Linh Từ phả chí
Tư liệu tiếp theo là Quảng Cung Linh Từ phả chí viết năm Cảnh Hưng thứ 42 (1781) của Vũ Huy Trác (người Lộng Điền, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân năm Cảnh Hưng 33 – 1772, trải các chức Lễ Bộ Tả Thị Lang, Quốc Tử Giám tư nghiệp, kiêm khu mật viện sự). Tư liệu này chép chi tiết hơn, như sau:
Lần giáng sinh thứ nhất:Nước ta vào thời Trần, ở huyện Đông Sơn có quan phó sứ Thiên Trường tên là Phạm Như Tiền, do bất cẩn trong việc quan bị tội, đày xuống hạ giới vào nhà họ Phạm ở Đông Ba huyện Đại An, làm con thứ, có tên là Đức Chính. Do Phạm công là con thứ, nên xin với cha xuống phường Trần Xá trong huyện, buôn bán tre gỗ,… rồi lấy người xóm Nhuế Duệ là Đoàn Thị Phương, hai người ở với nhau lâu chưa có con, bèn đến cầu tự ở chùa Phúc Lâm, sau sinh ra một cô gái xinh đẹp. Lúc ấy, đang giờ Dần ngày 06 tháng 03 năm Thiệu Bình thứ nhất (1434), đặt tên là Tiên Nga. Lớn lên chăm chỉ học tập, thông minh khác người, nhưng không lấy chồng. Ngày 10 tháng 10 năm Nhâm Ngọ (1462), thân phụ mất, an táng tại cồn đất phía đông nam phủ lị. Qua hai năm, thân mẫu cũng qua đời, đang ngày 20 tháng chạp năm Giáp Thân (1464), táng tại phía trái mộ thân phụ. Năm 35 tuổi, cải táng mộ song thân trọn vẹn, rồi chu du trong hạt giúp dân. Ngài đã có công: đắp đê Đại Hà trên từ bên phải núi Tiên Sơn dưới đến trại Tịch Nhi (xóm Gon); làm 15 cây cầu đá; khơi ngòi dẫn nước tưới tiêu khẩn đất ven sông; giúp người bần bệnh tiền bạc; sửa chùa đền; cấp lương tiền cho các vị hương sư, khuyên họ chăm việc dạy dỗ con em học tập. Sửa chùa Sơn Trương (Ý Yên), chùa Long Sơn (Duy Tiên), chùa Thiện Thành (Đồn Xá, Bình Lục), rồi ở tại Đồn Xá chiêu dân tái lập làng xã đến tháng giêng năm Nhâm Thìn (1472); Tháng 09 cùng năm trở về nơi ở cũ gặp thân thích cố cựu sửa đền thờ tổ ở phía nam thôn Đồi hạ. Bà còn viết nhiều thơ ca, chẳng hạn bài có tiêu đề “Nhàn cư bách thủ”,… Tháng Giêng năm Quý Tỵ lại đi đến các nơi ngày xưa từng tới, tháng ba về nhà ở, mơ thấy Phùng vương báo cho đến hạn về Đế hương. Khi ấy là ngày 02 tháng 03 năm Quý Tỵ (1473) thọ 40 tuổi. Sở tại đổi nơi ở cũ thành Đền thờ tự tri ân.
Lần giáng sinh thứ hai, giáng xuống đất xã An Thái huyện Thiên Bản, vào ngày 02 tháng 03 năm Thiên Hựu thứ nhất (1557) tại nhà họ Lê, tên là Thị Thắng sinh được một trai là Nhâm và một gái là Hoà. Đang lúc 21 tuổi, ngày 03 tháng 03 năm Gia Thái thứ 5 (1577), hết hạn cho phép, trở về linh tiêu, để lại con cho chồng là Trần Duy Đào. Có mộ để ở phần đất phía Nam xã nhà, cây cỏ bao phủ xanh tốt, bốn mùa khói nhang nghi ngút, linh dị khác thường.
Lần giáng sinh thứ ba, xuống thẳng đất Tây Mỗ huyện Nga Sơn, có tên là Hoàng Thị Trinh, lấy chồng là Mai Thanh Lâm, sinh được một trai đặt tên là Thanh Cổn. Kể từ ngày 10 tháng 10 năm Khánh Đức thứ 2 (1650), đến ngày 5 tháng 2 năm Cảnh Trị thứ 6 (1668), được 19 năm, thì trở về chốn Đế hương. Sau Chúa giáng bút đền ở Tây Mỗ, nói chồng mất ngày 23 tháng chạp, bà kế của chồng mất 14 tháng 08. Từ đó về sau, Chúa du ngoạn tuỳ nghi, ra oai giáng phúc chống lại triều Lê, cự lại cùng thiên sứ, xướng hoạ văn thơ với các văn nhân đương thời. Tiên Chúa đến nơi nào thì thường khuyên dân nơi đó chăm chỉ làm ăn, như Yên Mô thì trồng dâu nuôi tằm; Chúa có dạy học ở Thiên Quan, khẩn đất ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Nghệ An,… Khi Chúa đi rồi dân nhớ ơn lập đền thờ, tạc bia đá, viết từ phả,… Các đời vua đều ban sắc tặng. Ở đền Quảng Cung có 23 đạo sắc, đạo sắc sớm nhất có niên hiệu Hoằng Đình năm đầu (1601). Người ở An Thái và Tây Mỗ đem lễ đến kính tế từ năm Vĩnh Trị thứ 2 (1677), đến nay (thời điểm 1781) đã được 15 lần. Đền Quảng Cung xưa có lệ quốc tế, từ niên hiệu Cảnh Hưng năm đầu (1740) trở đi, thì mỗi khi đến ngày kỵ, quan phủ Nghĩa Hưng vâng mệnh bề trên đến lễ.
Theo Ngọc Phả (Lần giáng sinh thứ hai)
Chép theo ngọc phả thời tiểu sử Đức Thánh Mẫu Phủ Dầy thực là giản dị không có chút gì là huyền bí cả. Đức Thánh Mẫu Phủ Dầy giáng sinh đêm trăng rằm tháng 8 năm 1557 (năm Đinh Tỵ – Lê Thiên Hựu đệ nhất tức đời vua Lê Anh Tông) tháng Thìn, ngày Dần, giờ Dần. Năm 1577 (năm Đinh Sửu) không bệnh mà mất.
Thân phụ Ngài là Lê Công Chính và thân mẫu Ngài là Trần Thị Phúc.
Cao cao Tổ thuộc dòng dõi họ Lê ở trong Thanh Hóa, ở ẩn ra ngoài làng Kẻ Dầy, đổi sang họ Trần, tới đời thứ 3 thì lại đổi về họ Lê (Lê Công – Lê Đức Chính). Sau này con cháu mang dòng họ Trần Lê.
Lê Công đặt tên Ngài là Lê Thị Thắng, tên riêng của Ngài là Giáng Tiên vì ngài đẹp như tiên giáng trần.
Lê Công là một nhà nho, phong lưu, sung túc, người ở xã Tiên Hương, có đủ vật lực cho con gái theo đòi bút nghiêng, thi thư kinh sử, may vá thêu thùa. Nàng Giáng Tiên hồi bấy giờ thật là một người con gái hoàn hảo, có nhan sắc thông minh, nết na, lại tài giỏi về nữ công, âm nhạc, thi phú.
Những lúc nhàn rỗi, Giáng Tiên thường dạo chơi ra vườn gẩy đàn ngâm thơ. Hiện vườn ấy hãy còn di tích, lại đăng sau đền thờ Mẫu ở xã Tiên Hương bây giờ. Các bài thơ của nàng Giáng Tiên soạn còn truyền lại được bốn bài vịnh xuân, hạ, thu đông.
Năm 19 tuổi thì Giáng Tiên xuất giá kết hôn cùng với Trần Đào Lang. Đào Lang là con nuôi một ông quan hưu trí họ Trần ở thôn Vân Đình cũng thuộc xã Tiên Hương. Tục truyền rằng ông quan họ Trần ấy đã nhiều tuổi mà không có con, một hôm ra dạo mát vườn hoa tìm được một cậu bé, ai đem bỏ ở gốc cây đào, bèn đem về nuôi và đặt tên là Đào Lang.
Nàng Giáng Tiên về nhà chồng, trên thuận dưới hòa, nức tiếng là người hiền phụ. Được một năm sinh hạ được một giai đặt tên là Lê Nhâm, năm sau nữa lại sinh thêm được một gái tên Lê Cổn.
Sau khi lấy vợ, Đào Lang tỏ vẻ hơi trễ nải việc học hành. Nhân lúc canh khuya dệt vải, nàng Giáng Tiên làm một vài thơ có 28 vị tinh tú để răn đức lang quân. Đào Lang cũng họa một bài có 28 vị sao, và sau khi ấy trở nên rất chăm chỉ.
Giữa lúc gia đình đang sống trong cảnh yên vui, đầm ấm, trên có cha mẹ già, dưới có hai con thơ, vui vầy sum họp thì thương ôi nàng Giáng Tiên tự nhiên vô bệnh mà mất. Nàng mất năm 1577 (năm Đinh Sửu), giờ Dần ngày mùng 3 tháng 3, khi ấy mới vừa 21 tuổi, mộ táng ở xứ Cây Đa xã Tiên Hương, hiện nay lăng của ngài vẫn còn ở đấy. Năm 1938, người trong họ Đào chi và những người tín ngưỡng Đức Thánh Mẫu ở trong Trung Kỳ đã hưng công đóng góp xây dựng thành một ngôi lăng mộ Đức Thánh Mẫu Phủ Dầy nguy nga tráng lệ.
(Nội dung bài viết chép theo cuốn Hội Phủ Dầy – Sự tích Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh Công Chúa – Tác giả Phạm Quang Phúc (tri huyện Vụ Bản biên tập năm 1942) – Nhà xuất bản Thế Giới ấn bản năm 2021)

Cung cấm thờ Đức Thánh Mẫu Phủ Dầy tại Phủ Chính – Phủ Dầy Nam Định
Về việc thờ tự Mẫu ở khu vực đền Tiên Hương, theo ông Trần Lê Nhuận xóm 1 Tiên Hương xã Kim Thái huyện Vụ Bản:
- Cụ tổ Lê Công Tiên giỗ 18 tháng 4,
- Bà Từ Huệ giỗ 8 tháng 4,
- Ông Phúc Lương giỗ 9 tháng 9,
- Bà Từ Đường giỗ 17 tháng 2,
- Ông Đức Chính giỗ 9 tháng 9,
- Bà Diệu Phúc giỗ 15 tháng 12,
- Ông Duy Đào giỗ 5 tháng 5,
- Bà Thị Thắng giỗ 3 tháng 3,
- Ông em, tên là Lâm, giỗ 24 tháng 12,
- Bà Sâm, tên tự là Duy Tiên, giỗ 9 tháng 3,
- Bà Liên, tên tự Quế Anh, giỗ 15 tháng 3,
- Ông Từ Huyền giỗ 5 tháng 3,
- Bà Vĩnh giỗ 25 tháng 2.
Có thể thấy liệt kê trên đây là ngày giỗ của vợ chồng Mẫu (Thị Thắng và Duy Đào), và của thân thích trước sau.
Hiện ở Phủ Chính, có bài vị mang dòng chữ: “Sắc tặng khải sinh thánh phụ Trần công huý Chính, dực bảo trung hưng trung đẳng thần” và “Sắc tặng khải sinh thánh mẫu Trần môn chính thất huý Phúc, dực bảo trung hưng trung đẳng thần”, “Sắc tặng phu quân Trần công huý Duy Đào, trung đẳng thần”, “Sắc tặng Trần công huý Nhâm, trung đẳng thần” .
Như vậy, trong quan hệ với Mẫu, ông Lê Công Tiên là bố đẻ và bà Từ Huệ (Trần Thị Phúc) là mẹ đẻ, ông Lê Công Lâm là em ruột, bà Sâm tức Duy Tiên phu nhân là em dâu, bà Liên tức Quế Anh hay Quế Hoa là cháu.
Về phía chồng, ở xóm Vân Đình (Giáp Nhì), đều có bài vị thờ ở Phủ Tiên Hương. Mộ phát tích thì tại xứ Cây Đa Bóng, có mộ cha đẻ tại xứ La Hào (Giáp Ba) là mộ tổ tứ đại, còn cồn cây đa là mộ Mẫu nơi chôn cất xác phàm, nơi sau này ba chị em họ Lê thuộc Hội Đào chi (Huế) đã xây thành lăng đá năm Bảo Đại Mậu Dần (1938).
Theo các bản văn khấn tế
Bài văn tế dùng để tế Thánh Mẫu tại Phủ Tiên Hương do Hà Tông Quyền (Lễ bộ Hữu Thị Lang, Phương Trạch hầu) viết năm Minh Mệnh thứ 9 (1828), tạm dịch nghĩa:
“Kính trông Thánh Mẫu,
Phong độ người tiên, giá trong băng ngọc,
Hẹn năm trăm tốt đẹp, do Côi Hoàng anh tú sinh ra,
Nổi danh Thiên Bản lục kỳ, tới Sòng Cát thiêng liêng rõ rệt,
Có nguồn gốc tự Quảng Cung, thực là thần hoá,
Vọng tiếng tăm trong thiên hạ, chỉ bởi hiếu trinh,
Rồi đến Vân Cát, khuôn mẫu mẹ bao trùm hải nội,
Luôn vì phu tử, lòng nhân từ nhuận thấm sơn hương,
Buổi Tây Mỗ, đoạt thân Hoàng thị tái hợp Đào quân,
Ngụ Kẻ Sỏi dạy con học hành, cho tròn phụ đạo,
Với nhà, sùng phụng Mẫu nghi, ngàn thủa cung đình rực rỡ,
Với nước, tôn phong Vương vị, các triều hoa cổn biểu dương,
Lũ dân con từ lâu kính thờ hương khói, đội đức sinh thành…
Ngẩng đầu trông đợi chở che, thanh cao tượng pháp,
Nhìn xuống xiết bao sợ hãi, rẽ rọt tâm linh…
Giấc mơ nghe nhạc quân thiên, gió đưa vận dao cầm phảng phất,
Lòng nghỉ ở ăn đất Thánh, sân phô bày gây hội nghiêm trang,
Nay nhân gặp tiết theo xưa, kiến sâu dãi tỏ,
Lại sắm vi thành tục cũ, lớn bé xếp hàng,
Mong cho bách tính quân an, dưới trên hoà thuận,
Chỉ nguyện tứ dân lạc nghiệp, đi lại hanh thông,
Thần soi xét từ sự cao minh, thâu cùng vật loại,
Đức quảng đại bao hàm non nước, vọng khắp cổ kim,
Thực trông ơn tế độ âm phù hết sức vậy.
Cẩn cốc !”
Trong lời khấn ở Phủ Tổ họ Trần ông Trần Bình Hành hậu duệ của Mẫu, có đoạn:
“Có tổ nội ở La Hào, mộ để tọa khôn hướng cấn,
Còn quê chồng nơi Nhị giáp, trạch an hướng tốn tọa càn.
Với cha hiếu thuận đâu người sánh,
Cùng chồng trinh bạch ít ai so.
Nối tiền kiếp giáng sinh ở chân trời,
Cửa nhà ấm áp, dạy hậu duệ phong hoá từ chóp núi,
Ngày tháng thanh đạm.”
Bài thơ của Lã Xuân Oai nói về Phủ Tiên Hương (bài dịch của Bùi Hạnh Cẩn):
“Ai biết đền xưa được tỏ tường,
Tâu bày với Mẫu nén tâm hương.
Trông ơn non Thái lời chung thuỷ,
Nhờ đức làng Tiên giữ kỷ cương.
Sao để Lạc Hồng không thẹn bóng,
Chỉ mong Tiên Chúa sớm lo lường.
Nổi danh đệ nhị còn gia tộc,
Nam bắc ngàn thu một chiếc gương.”
Hiện nay, còn thấy cuốn thư gỗ treo ở gian giữa tiền đường Phủ Chính có chữ đề của Tam Thanh Ngô Giáp Đậu (Nam Định đốc học, đậu năm Mậu Ngọ niên hiệu Khải Định – 1918):
Nhất đạo kim bài hạ cửu thiên,
Nam châu thần phả Cát sơn tiên.
Cổ truyền An Thái trung linh địa,
Do ký Dương Hoà hiển thánh niên.
Kinh tạng mặc thông tam muội quyết,
Từ quang phổ tác vạn gia yên.
Phong thanh cố quốc sùng vương mẫu,
Miếu mạo thiên thu hưởng tự quyền.
Tạm dịch:
Một thẻ vàng trao chốn cửu thiên,
Cõi nam Vân Cát một người Tiên.
Vẫn rằng Yên Thái nơi quê cũ,
Còn nhớ Dương Hoà nổi tiếng thiêng.
Tam muội làu thông kinh sách quý,
Muôn nhà nhờ cậy khói nhang tôn.
Phong thanh cố quốc nêu Vương Mẫu,
Đền miếu ngàn thu kính lễ truyền.
Bài thơ của Ngô Giáp Đậu nhắc lại tích truyện trong tiết vạn thọ của vua cha Ngọc Hoàng, tiên chúa đánh rơi chén ngọc, vỡ mất một góc. Vua cha giận, đuổi xuống đầu thai vào nhà Lê Đức Chính, Trần Thị Phúc Thuần ở thôn Vân Cát, xã An Thái huyện Thiên Bản, sau lấy chồng có con. Niên hiệu Dương Hoà năm thứ 8 (1642), tổ chức thi bách thần, các kiệu của thần khác từ Tản Viên đến các Thành Hoàng đều không có sự hiển dị, riêng có kiệu Mẫu thì tấm vóc đỏ phủ kiệu bay lên trên trời, rồi hoá ra đám mây năm sắc, giữa đám mây có mảnh gấm đỏ, trên có 4 chữ lớn “Thánh Thọ vô cương” hàng dưới có 6 chữ nhỏ hơn “Mã Vàng Công Chúa tạ ân”. Các chữ này tồn tại từ đầu giờ Thìn đến cuối giờ Ngọ mới tán, thì tấm gấm lại bay từ trên không bay về trùm lên kiệu như cũ.
Cũng vào thời Hậu Lê, sau khi quy y Phật, thì Mẫu phù hộ nhà chúa Trịnh đánh giặc thắng lợi được vua phong cho chữ “Chế Thắng Bảo Hoà Diệu Đại Vương” (Làm cho thắng lợi, giữ sự hoà hoãn, là công lao của vị đại vương nữ). Đó là việc năm Vĩnh Trị thứ 2 (1677).
Theo truyền thuyết về ba lần giáng sinh
Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh giáng sinh trước sau ba lần:
(1) Lần thứ nhất Thánh Mẫu phụng mạng giáng sinh.
(2) Lần thứ hai Thánh Mẫu bị trích xuống trần.
(3) Lần thứ ba Thánh Mẫu tình nguyện xuống trần.
Thánh Mẫu giáng sinh lần thứ nhất (1434 – 1473)
Vào đầu thời nhà Hậu Lê, tại ấp Quảng Nạp, xã Vỉ Nhuế, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, trấn Sơn Nam; có một người gọi là Phạm Thái Ông, hiệu là Huyền Viên, húy là Đức Chánh, người xã La Ngạn kết duyên cùng bà Đoàn Thị Hằng, người ấp Nhuế Duệ, cũng xã Vỉ Nhuế (nay là thôn Vỉ Nhuế, xã Yên Đồng, Ý Yên, tỉnh Nam Định) gọi là Phạm Thái Bà hiệu là Thuần Nhất.
Hai ông bà ăn ở rất hiền lành phúc hậu, ngày đêm chỉ lo vun trồng cội đức, bồi đắp ngành nhân, hằng tâm đã sẵn hằng sản lại nhiều, cho nên sự làm phúc càng ngày càng tăng tiến. Nào là tô tượng đúc chuông, nào là xây chùa lập miếu, nào là san cơm xẻ áo cho kẻ bần cùng, nào là phát gạo cấp tiền cho người cô quả. Nói tóm lại là không có một việc thiện nào mà không có hai ông bà họ Phạm.
Nhưng Phạm Thái Ông, và Phạm Thái Bà, có một nỗi buồn riêng, là hào tử tức vẫn còn hiếm, buồn rồi lo, vì tuổi đã nhiều mà con chưa có, không biết lấy ai mà kế thế về sau, để giữ lấy cơ đồ họ Phạm. Thường ngày Phạm Thái Ông, cùng Phạm Thái Bà cứ thiết đàn làm chay, cầu trời khấn phật xin cho có con hậu tự. Lòng thành thấu đến trời xanh, việc cầu tự, đức Ngọc Hoàng động tâm, xét sổ Nam Tào thấy Phạm Thái Ông khi xưa làm Phó Sứ Thiên Triều Khâm Sai tra sổ, bị có điều bất công, nên phải bị tích xuống cõi trần thế; bởi vậy lời cầu của đức Phạm Thái Ông được trên Thiên Đình doãn hợp. Đức Ngọc Hoàng tức thì hạ lệnh, truyền đòi đệ nhị Tiên Nương lên chầu, mấy phút sau, đã thấy một vị Tiên Nương mặc áo hồng, gót sen nhẹ bước, quỳ lạy trước sân rồng, chờ lệnh.
Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế phán rằng:“Trần Hoàng có Phạm Thái Ông tu nhân tích đức đã lâu mà chưa có con nối hậu, nay cha muốn con xuống đầu thai làm con nhà họ Phạm ít lâu, rồi sẽ trở về Linh Tiêu vậy con nghĩ sao?”
Đức Tiên Chúa tâu rằng:“Đội đức Thiên Nhan, non cao bể rộng, khôn toan cưỡng lời, Hoàng phụ phán dạy mấy lời con xin tuân mạng”.
Đức Thượng Đế nghe Tiên Chúa cũng vui lòng thuận xuống trần, thì trong lòng vui vẻ lắm. Lúc đó, Quần Tiên tâu hỏi đức Thượng Đế rằng:“Cho Tiên Chúa xuống trần độ bao nhiêu lâu”. Đức Thượng Đế liền cất bút son ngự phê hai chữ Linh Tiêu trên đầu tên của đức Tiên Chúa, và phía dưới năm chữ:“Tứ phương lai cúng Phật”. Rồi truyền cho lui chầu.
Buổi Thiên Triều hội nghị chính vào ngày rằm tháng sáu năm Quý Sửu, niên hiệu Thuận Thiên lục niên (1433), triều vua Lê Thái Tổ. Giờ Tý đêm hôm đó, Phạm Thái Bà nằm chiêm bao thấy có Đức Tây Cung Vương Mẫu cho một quả đào, mùi thơm ngào ngạt, kế đó Phạm Thái Bà có thai.
Đến ngày giáng thế, Đức Tiên Chúa trước vào lạy Đức Hoàng Phụ, và Mẫu Hậu, rồi trở ra chào văn võ bá quan cùng các vị Quần Tiên, và dặn dò đâu vào đó, xong rồi mới bước lên loan xa đã chờ sẵn trước Thiên Môn, tức thì:
Sanh ca đàn hát đôi bên
Dập dìu phụng liễn xuống miền nhân gian
Cờ bay nhạc nổi trống vang
Theo hầu Tiên Chúa cả đoàn Tiên Nga.
Đêm đó Phạm Thái Ông nằm ngủ, mơ màng thấy các vị Tiên Nga vào nhà mình, mùi thơm ngào ngạt, Phạm Thái Ông vội vàng khăn áo chỉnh tề để ra nghênh tiếp. Khi bước xuống thềm, vì lòng kính sợ, khúm núm thụt lùi trật chân sắp ngã, lúc đó Phạm Thái Ông giật mình tỉnh dậy thì Phạm Thái Bà đã sinh được một người con gái:
Nhãn quan lóng lánh tinh thần
Mây ngần vành nguyệt giá ngần vóc sương
Má đào môi hạnh phi thường
Giá so Tố-nữ Tiên-Nương khôn bì
Lúc đó chính vào giờ dần, niên hiệu là Thiệu Bình nguyên niên, triều Vua Lê Thái Tôn Hoàng Đế (1434) trong nhà thơm nức mùi hoa huệ, ai ai cũng lấy làm mừng, và lấy làm lạ. Hoa huệ đó là các vị Quần Tiên đem dâng đức Tiên Chúa trong khi tạm biệt.
Phạm Thái Ông thấy con mình hình dung tuấn tú, cốt cách phi phàm, lại nhân thấy chiêm bao các vị Tiên Nga vào nhà, nên đặt tên là Tiên Nga. Gặp cảnh lão bạn sanh châu, Phạm Thái Ông cùng Phạm Thái Bà chăm nom săn sóc cho một cách khác thường, nói không hết được, thật là:
Yêu như ngọc dấu như ngà
Nâng châu rún biển, hứng hoa lưng trời
Màn the trướng gấm thảnh thơi
Thâm khuê dưỡng dục, khác vời Tiên cung.
Phạm Thái Ông cùng Phạm Thái Bà từ khi sinh ra Tiên Chúa thường bảo nhau rằng:
“Từ khi kết nghĩa với nhau đã hơn hai mươi năm, mà chưa hề sinh nở lần nào, thế là biết hào tử tức của ta hiếm lắm, bây giờ ta đã già rồi mới có. Chắc vì thường ngày chúng ta hay làm những điều phước thiện, cho nên Hoàng Thiên không nỡ phụ lòng, thật là cảm ơn Trời Phật không biết nhường nào”
Phạm Thái Ông, cùng Phạm Thái Bà nghĩ vậy, nên lại lo làm những điều phước thiện hơn trước. Ngày tháng thoi đưa, thì giờ thấm thoát, Tiên Chúa đã lên năm tuổi, tức là năm Mậu Ngọ niên hiệu Lê Thiệu Bình ngũ niên (1438). Đức Tiên Chúa biết mình thác sinh vào cửa nhà giàu, trong lòng không lấy làm vui, vì Đức Tiên Chúa tự nghĩ sinh vào nhà nghèo thì Đức Tiên Chúa dễ báo hiếu hơn. Đến năm Quý Hợi niên hiệu Thái Hòa nguyên niên (1443) triều Vua Lê Nhân Tôn, Đức Tiên Chúa lên mười tuổi khi đó đã có tri thức thông minh, con gái trần gian vào tuổi đó đương độ thơ ngây, có biết gì là sự khôn dại, là sự hiếu thảo, nhưng Đức Tiên Chúa đã xuất tính khác thường, rất là hiếu thuận, cung phụng hai thân mẫu, mùa hạ quạt mát mùa đông chăn mền. Những khi Phạm Thái Ông, hay Phạm Thái Bà có đau ốm thì Đức Tiên Chúa ngồi hầu luôn bên trướng, nửa bước không rời, lo chăm thang thuốc, lo việc cháo cơm, đến khi nào cha mẹ hết bệnh thì Đức Tiên Chúa mới an lòng. Có một đêm về mùa đông tuyết sương lạnh lẽo, Phạm Thái Ông lâm bệnh đã ba bốn ngày, thuốc thang không chuyển. Đức Tiên Chúa lấy làm lo lắng, ngày biếng ăn, đêm quên ngủ, vóc ngọc mình mai, hình dung tiều tụy, thật là bề trong trăm phần buồn bã, mà bề ngoài giả dạng làm vui, để cho Phạm Thái Bà yên dạ. Nhưng thấy bệnh Đức Phạm Thái Ông không giảm, Đức Tiên Chúa trong lòng hoảng hốt lúc đó lẻn dậy một mình, thắp hương ra giữa thinh không khấn với Phật Trời, phù hộ cho cha bệnh tình thuyên giảm. Phạm Thái Bà trở mình sực tỉnh không thấy con, liền gọi cũng không thưa, bèn thắp đèn đi tìm, Đức Phạm Thái Ông thấy thế cũng thức dậy. Bất đồ Phạm Thái Bà ra đến giữa sân, thấy Đức Tiên Chúa đương quỳ khấn nguyện, tuyết xuống phủ cả người, Phạm Thái Ông cùng Phạm Thái Bà thấy con như thế cảm động quá, chờ cho con khấn xong, mới gọi vào thay áo đi nghỉ. Đức Phạm Thái Ông thấy con mình còn nhỏ, mà đã chí hiếu như vậy, trong lòng khoan khoái vui tươi, từ đó về sau bệnh đều thuyên giảm, thật là:
Năm lên mười tuổi khôn thay
Một bề hiếu thuận nết na ai tày
Thung thuyên sớm dép túi dày
Quạt nồng đắp lạnh đêm ngày vào ra
Tôn thần thượng mục hạ hòa
Lời ăn tiếng nói nhu hòa khoan thai
Đủ điều ngôn hạnh công dung,
Song xem cốt cách khác người trần gian.
Đến tuần tam ngũ phương phi
Bạn tấn khách tấn dập dìu vãng lai.
Phạm Thái Công mới hỏi con:
Chiêu thân sớm định để già tâm khoan
Thấy con dưới gối thừa hoan
Thân con nên phải lo toan việc nhà
Đức Tiên Chúa, nghe song thân dậy thế, cũng cảm động, nhưng Tiên Chúa nhất định thủ tâm trinh bạch, bụi trần không chút vương dơ, liền tự nghĩ thưa rằng:
Nay con, đội đức sinh thành,
Ơn tày biển rộng nghĩa đà non cao
Hổ thần chút phận thơ đào
Hình lâm tử tức triệt vào cung phu
Cuộc đời như thể phù vân
Thần Tiên bận lấy duyên trần làm chi
Nhớ khi nuôi dưỡng phò trì
Nghĩ sao báo đáp ơn nghĩa cho phụ
Con xin dốc chí đường tu
Chiều hôm ban sớm duy du vui cùng
Mặc ai mối điệp tin ong
Mặc ai lá thắm chỉ hồng bạn duyên
Khi xưa phẩm cách người Tiên
Lẽ nào nỡ để hồng liên bùn lầy
Phạm Thái Ông, cùng Phạm Thái Bà nghe con nói đã cạn lời, ngỡ rằng con mình tiền thân Phật Quan Thế Âm giáng sinh chăng, nên cũng chiều lòng con, không nói đến sự nhân duyên nữa.
Đến năm hiệu Lê Thánh Tôn Quang Thuận tam niên, ngày 10 tháng 10 năm Nhâm Ngọ (1462) Đức Tiên Chúa hai mươi chín tuổi, thì Đức Phạm Thái Công tạ thế.
Ngán thay dưới đất trên trời.
Một người mà gánh hai vai thâm tình
Báo ân tứ đức sinh thành
Gần xa ai kẻ nức danh nữ tài.
Cử tang mới được hai năm, vừa Phạm Thái Bà cũng theo Phạm Thái Ông về nơi cực lạc. Tức là năm Giáp Thân niên hiệu Vua Lê Thánh Tôn Quang Thuận ngũ niên (1464), Đức Tiên Chúa lên ba mươi mốt tuổi, Đức Tiên Chúa đau lòng xót ruột ngất đi tỉnh lại không biết mấy mươi lần. Than ôi! trên không anh, dưới không em, một mình bối rối, ngậm thảm nuốt sầu, khó bề toan liệu, bèn mời các bậc trưởng lão trong làng, trong xóm lại bàn, các ông trông thấy Đức Tiên Chúa nết na hiếu đễ, ai cũng thương tình, rồi người giúp việc này, kẻ đỡ việc khác, sự tống táng Phạm Thái Bà rất là trọng hậu. Đức Tiên Chúa – Phạm Tiên Nga đã làm lễ an táng cha mẹ ở phía đông nam phủ Nghĩa Hưng (nay là thôn La Ngạn, ở đây có đền thờ Phụ thân và Mẫu thân của Phạm Tiên Nga).
Thân Đức Tiên Chúa bao quản tàn toan, nào hầu hạ họ đương làng nước, nào tiếp đãi kẻ viếng người thăm, nào lo việc thiết đàn làm chay, cầu siêu cho song thân, nào lo việc tống táng an toàn, nào lo sắm cỗ bàn thực phẩm để tiếp đãi bà con làng xóm, một mình Đức Tiên Chúa trăm tính ngàn toan, lo xong đâu vào đó rất là chu đáo. Sau việc tống táng xong rồi, Đức Tiên Chúa lại lo báo đáp những kẻ có công, lạy tạ những người giúp việc, không sót một điều gì đáng trách được, đến tuần tứ cửu làm chay, đại đàn bố thí bảy ngày đêm, Đức Tiên Chúa cầu nguyện cho vong linh hai thân được siêu độ, lòng hiếu thảo thấu đến cửu thiên.
Đức Thượng Đế liền truyền đem bộ trắc giáng ra ngự lãm, Đức Thượng Đế thấy Tiên Chúa còn mười năm nữa mới đến hạn quy tiên. Còn Phạm Thái Ông, cùng Phạm Thái Bà, hằng ngày lo làm điều phước thiện, tu nhân tích đức, cũng được siêu độ.
Từ ngày Thung Huyên khuất núi, Đức Tiên Chúa buồn rầu, ngày biếng ăn, đêm biếng ngủ, chỉ thở vắn than dài, không còn muốn gì nữa, ở trong làng có một ông cụ già, thấy Đức Tiên Chúa nết na hiếu thuận cũng thương tình, mới đến khuyên giải, bày vẽ cho Đức Tiên Chúa rằng:“Đạo làm con, khi cha mẹ mất rồi, không phải là than phiền như thế mãi mới là hiếu, hai ngài không có con trai, chỉ một mình cô là gái, mà cô không xuất giá, thế là gái cũng như trai, cô nên giải sầu làm vui, chăm sóc làm ăn, mà giữ bền cơ nghiệp, kẻo một mai cơ đồ sa sút, chắc hai ngài ở dưới hoàng tuyền cũng không được thỏa dạ, cô nên nghĩ lại, khuya sớm giải khuây”
Đức Tiên Chúa nghe nói, mới hồi tỉnh liền quỳ xuống lạy tạ mà rằng:“Thưa Cố, những lời Cố dạy con xin ghi tạc vào lòng, và ơn đó, sau này con không dám quên”.
Từ đó về sau, Đức Tiên Chúa canh cửi vá may, lo lắng làm ăn, không buồn rầu như trước nữa. Có một hôm Đức Tiên Chúa thấy chiêm bao có bà Tam Tinh Công Chúa lại nói rằng:“Tôi là con gái Vua Động Đình; vâng mệnh lệnh đem vàng bạc châu báu lại giúp”.Quả nhiên, trong khoảng mười năm đó, tài chí như xuyên, Đức Tiên Chúa làm ăn phát đạt, chẳng bao lâu mà Đức Tiên Chúa giàu gấp năm gấp mười hơn trước. Đức Tiên Chúa cảm cái ơn đó, nên bây giờ cứ đệ niên đến ngày mười hai tháng tám là ngày kỵ Vua Động Đình thì Quần Tiên hội lại, trần thiết lễ nghi làm lễ chiêm bái, để tỏ lòng không quên gốc và ơn. Đức Tiên Chúa giàu thêm lên bao nhiêu, thì Đức Tiên Chúa lại làm phước thiện bấy nhiêu, nào trợ cấp cho đồng dân lo dựng chùa lập miếu cho làng, lo xây lăng đắp mộ cho các vị Tiên Linh, và sửa sang nhà từ đường để phụng sự, còn dư giả bao nhiêu, Đức Tiên Chúa bố thí cho tất cả bốn phương dân cùng.
Sau ba năm để tang cha mẹ, lo mồ yên mả đẹp, Phạm Tiên Nga bắt đầu chu du khắp nơi làm việc thiện (lúc này Tiên Nga vừa tròn 35 tuổi). Mẫu đã ủng hộ tiền của và công sức giúp dân đắp đê ngăn nước Đại Hà từ bên kia phía núi Tiên Sơn (nay là núi Gôi) đến Tịch Nhi (nay chính là đường đê Ba Sát, nối Quốc lộ 10 chạy dọc xã đến ngã ba Vọng. Đây cũng chính là con đường nối di tích Phủ Dầy với Phủ Quảng Cung). Cùng với việc đắp đê, Mẫu còn cho làm 15 cây cầu đá, khơi ngòi dẫn nước tưới tiêu, khai khẩn đất ven sông, giúp tiền bạc cho người nghèo, chữa bệnh cho người ốm, sửa đền chùa, cấp lương bổng cho các vị hương sư, khuyên họ cố sức dậy dỗ con em nhà nghèo được học hành. Năm 36 tuổi, Mẫu đến bờ Sông Đồi dựng một ngôi chùa trên mảnh vườn nhỏ, đặt tên là Chùa Kim Thoa. Bên trên thờ đức Nam Hải Quan Thế Âm Bồ Tát, bên dưới thờ cha và mẹ. Sau đó hai năm, Mẫu tới tu sửa chùa Sơn Trường – Ý Yên, Nam Định, chùa Long Sơn – Duy Tiên, Hà Nam, chùa Thiện Thành ở Đồn Xá – Bình Lục, Hà Nam. Tại chùa Đồn Xá, Mẫu còn chiêu dân phiêu tán, lập ra làng xã, dậy dân trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải. Tháng Giêng năm Nhâm Thìn (1472), Mẫu trở lại chùa Kim Thoa, và tháng 9 năm ấy Mẫu trở về quê cũ cùng các anh chị con ông bác tu sửa đền thờ Tổ họ Phạm khang trang bề thế (nay còn đền thờ ở phía nam xóm Đình thôn La Ngạn). Sau đó Mẫu lại đi chu du ở trong hạt, khuyên răn bà con dân làng những điều thiện phước.
Ngày tháng thoi đưa, chẳng bao lâu mà hạn của Đức Tiên Chúa về Linh Tiêu đã đến. Một buổi chiều kia, về tiết mùa xuân, năm Quý Tỵ, hiệu Lê Hồng Đức thứ tư (1473), Đức Tiên Chúa chẵn bốn mươi tuổi. Một hôm khí trời mát mẻ, trong vườn trăm hoa đua nở, trên cành oanh hót líu lo, Đức Tiên Chúa cũng nhân khi nhàn hạ, dạo gót sen ra vườn ngoạn thưởng xuân cho tiêu sầu giải muộn, bữa đó chính là ngày mùng chín tháng giêng, Đức Tiên Chúa sực nhớ lại ngày đó là ngày vạn thọ Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế. Rồi Đức Tiên Chúa mơ màng ôn lại trong trí nhớ rằng, hiện bây giờ trên điện văn minh Đức Thượng Đế còn đương:
Cân đai áo mão rỡ ràng
Các quan văn võ, bày hàng hai bên,
Quần thiên nhạc mới tấu lên
Trần chầu mã não ngự viên sẵn bày
Kim Đồng Ngọc Nữ đông thay
Bàn đào được tiến ngay ngự tiền
Đức Tiên chúa nhớ vậy lấy làm buồn lắm, nên thường thường trông cho ngày tháng mau qua, để đến hạn về trời mà hưởng vui cùng chị em trong cung Quảng. Bước qua tháng ba năm Quý Tỵ (1473), đêm mùng một, Đức Tiên Chúa thấy vị Thổ Thần tức là Phùng Vương đến tâu với Đức Tiên Chúa rằng:
“Quảng cai Long Mạch bấy lâu
Phụng sai rước Chúa về chầu Tiên Cung”
Tâu xong, bỗng có một trận gió ào ào, làm cho đổ lộc rung cây, có một đám mây ngũ sắc dựng lên, mùi thơm ngào ngạt, kế đó đá trên không trung rơi xuống, hiện ra các bà tiên nữ, Đức Tiên Chúa xem ra, đã thấy Quần Tiên chầu sẵn, có hai bà Tiên nữ, một bà bưng quả ngọc thạch, một bà bưng một quả ngọc đào, dâng lên Đức Tiên Chúa, liền đó, Tiên Chúa giở ra, sẵn có con dao, Đức Tiên Chúa liền cầm dao cắt quả đào, trật tay, rơi ba dây máu, ba dây máu ấy, bây giờ gọi là Ba Khê Công Chúa. Tiên Chúa còn đương xem ngón tay, thì xa loan đâu đã đến nơi rước Đức Tiên Chúa về chầu Thượng Đế; bữa đó chính là ngày mùng hai giờ Dần, tháng ba năm Quý Tỵ niên hiệu Hồng Đức thứ tư, triều Vua Lê Thánh Tôn (1473). Quần Tiên vâng mệnh chỉ truyền, Tam Tinh cùng với Chúa Tiên phản hồi, khi Tiên Chúa về đến Linh Tiêu, trước vào bái yết Phụ Hoàng, cùng Mẫu Hậu, rồi ra chào văn võ bách quan, sau đi thăm các vị Quần Tiên, cùng chị em trong cung Quảng thiệt là:
Bầu trời cảnh phật non tiên
Mới hay vui thú khác miền trần gian
Linh Tiêu ngày tháng thanh nhàn
Tràng sinh đơn nhược rõ ràng là đây.
Ngay sau khi Mẫu mất, nhân dân xã La Ngạn, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng đã lập đền thờ trên nền nhà cũ, gọi là Phủ Đại La Tiên Từ, đồng thời quê mẹ của Mẫu là xã Vỉ Nhuế cũng lập đền thờ để tưởng nhớ công lao của Thánh Mẫu gọi là Phủ Quảng Cung (thờ Công Chúa Liễu Hạnh).
Thánh Mẫu giáng sinh lần thứ hai (1557 – 1577)
Tại thôn Vân Cát, xã An Thái, huyện Thiên Bản, phủ Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định có một người tên là Lê Thái Ông hiệu là Đức Chánh. Vợ Trần Thị Tự hiệu là Phúc Thuần, ăn ở rất hiền lành phúc đức, ngày làm việc thiện gì thì đêm thắp hương cáo với Hoàng Thiên, Hậu Thổ trăm lần như một, đến năm bốn mươi tuổi, mới sinh được một người con trai đầu lòng đặt tên là Lê Lục. Đức Lê Thái Ông nguyên dòng dõi họ Trần, nhưng sau gặp loạn Hồ Quý Ly và Trương Minh Phụ giết hại Trần tôn thất nhiều quá, nên phải cải họ Trần ra họ Lê cho khỏi bị họa.
Đến năm Đinh Tý, Thiên Hữu nguyên niên triều Vua Lê Anh Tôn (1557), Lê Thái Bà có thai lần thứ hai, đã quá ngày sinh, mà chưa sinh được. Thường ngày các thức mặn không ưa, chỉ thích hoa quả mà thôi, trong nhà thấy thế, ngỡ là yêu quái nhiễu, bèn thiết đàn mời thầy phù thủy đến coi trừ tà trị bệnh, nhưng không hiệu quả, bệnh lại tăng thêm. Một hôm về tuần tháng 3 trời thanh trăng tỏ có một người chít khăn nâu áo vải ra dáng đạo nhân, đứng ngoài cửa xin vào chữa bệnh, người nhà không cho vào. Người đạo nhân cười mà nói rằng:“Ta đây có phép hàng long phục hổ, xuất u nhập minh, thấy nhà ngươi ăn ở hiền lành mới vào cứu giải, sao nhà ngươi lại không cho vào.”
Lê Thái Ông nghe nói liền mở cửa mời vào. Người đạo nhân vừa vào nhà, thì xõa tóc lên đàn, miệng niệm thông thiên thần chú, tay rút cái búa ngọc trong tay áo ra, rồi ném xuống đất, tức thì Lê Thái Ông mê thiếp đi, bằng theo tay ngã xuống, thấy hai viên lực sĩ đầu đội nón dấu, mình mặc áo giáp, tay cầm hèo hoa, lại dẫn ông đi, thì ông cũng cứ theo đi, đường đi khúc khuất quanh co, càng lên càng cao, hết tầng này qua tầng khác, sắc trời mờ mờ như sáng trăng, trông không được rõ. Đức Thái Ông đi mãi đã mệt, không muốn đi nữa, bèn nói với hai ông lực sĩ ngồi nghỉ, nhưng hai ông không nhận lời, lại còn giục Đức Thái Ông đi gấp nữa, và nói rằng:“Kia kìa, cửa Kim Khuyết đã gần đến nơi rồi, mời ông chịu khó đi gấp kẻo trễ”.Hai ông lực sĩ vừa nói vừa giục, tay chỉ cho Thái Ông xem, Thái Ông bất đắc dĩ cũng phải theo. Đi được một chốc nữa vừa đến, thấy một cái cửa làm toàn bằng vàng, sáng chói cả mắt, phía ngoài cửa ở tầng trên có hai con rồng chầu mặt nguyệt, ở tầng dưới có hai con phụng ngậm quyển thư, ở tầng trong có hai con kỳ lân giỡn quả cầu, ở tầng dưới có hai con quy đội đồ bát quái, làm toàn bằng ngọc cả. Đức Thái Ông đang ngẫm nghĩ một hồi thì hai ông lực sĩ đem áo lại cho ông thay, lại đưa ngài qua chín tầng cửa nữa mới đến một tòa nhà làm bằng mã não, hai người lực sĩ bảo ông đứng lại đó mà chờ. Mấy phút sau, chợt thấy đám mây hồng dựng lên, mùi thơm ngào ngạt, thấy ở trong đám mây bước ra một vị tóc bạc phau phau, khuôn mặt vuông chữ điền, màu da đỏ thắm, đội mũ bình thiên, tay cầm ngọc như ý, mình mặc long bào, ngồi trên một chiếc long ngai bằng vàng để trên bệ ngọc, chung quanh mình có một đạo hào quang chiếu sáng rực rỡ khắp một vùng trời, bốn phía có che cái tàng tía, hai bên có các quan đứng chầu, áo mão xiêm đai, văn quan võ tướng kể biết bao nhiêu, rất là nghiêm chỉnh, ở dưới trần thế Thái Ông chưa từng trông thấy. Nhạc quân thiên bắt đầu tấu trước, khúc nghê thường chén gót múa sau, trên mâm lưu ly dâng quả bàn đào của Đức Vương Mẫu trong bình đơn dược của Đức Lão Quân, hàng hà sa số châu bảo, không kể xiết.
Một lát, thấy một vị Tiên nữ áo hồng y vào làm lễ, bưng chén ngọc rượu chúc thọ, sẩy tay rơi xuống, lúc đó bên tả có một vị quan giở quyển sổ ngọc, biên vào ước chừng mười chữ, rồi thấy vị ngồi trên ngai rồng ở giữa thịnh nộ lôi đình liền quở rằng:“Sao người không tròn phận sự giữa Đế Đình như thế”. Đoạn rồi có hai vị sứ giả, và mấy người thị nữ, dắt người Tiên nữ mặc áo hồng ra đi ngã cửa nam, có một người cầm kim bài đi trước, trên kim bài có đề hai chữSắc Giáng,ở đoạn dưới có hai chữNam Nam,ở dưới nữa thì có nhiều chữ nhỏ, vì Lê Thái Ông đứng xa trông không được rõ. Lê Thái Ông quay lại hỏi hai ông lực sĩ rằng:“Đây là chỗ nào? đó là ai? và chuyện gì thế?”.Một người lực sĩ đáp rằng:“Đây là Thiên Đình, người ngồi giữa là Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, còn người con gái mặc hồng y là Đệ nhị Quỳnh Nương bị trích giáng”.Người Lực sĩ vừa nói xong thì ở phía sau tả có một người quát hỏi:“Các ngươi làm chức tước gì, ở nơi nào dám tới đây?”, hai viên lực sĩ thưa rằng:“Chúng tôi là ngũ lôi thần binh, đến chờ chỉ”. Nói thế rồi hai viên lực sĩ lại đem ông về, lúc về thì bên thành trống đã tàn canh, Lê Thái Ông lần lần tỉnh lại. Lê Thái Bà đã sinh đặng một người con gái rồi.
Mùi thơm ngào ngạt, ánh hào quang rực rỡ đầy nhà, ai cũng lấy làm vui mừng. Trong khi cả nhà đang vui mừng cười nói, xóm làng bà con xa gần đều đến viếng thăm mừng rỡ, hiện lúc đó, thì ông đạo nhân đã biến đi lúc nào không biết, ai nấy cho là sự linh cảm, ngợi khen và bái tạ ông đạo nhân. Bữa đó chính là ngày Giáp Dần, giờ Dần tháng Ba (mùng ba tháng bính thìn), năm Đinh Tỵ niên hiệu Lê Thiên Hựu nguyên niên, triều vua Lê Anh Tôn (1557). Lê Thái Ông tưởng đến sự xuất thần cho được trông thấy như thế ắt là Tiên nữ giáng sinh, rất là mừng lắm, cho nên mới đặt con tên là Thắng hiệu là Giáng Tiên. Nhà Lê Thái Ông sở dĩ mà được Đức Thiên Chúa hạ sinh vào đó là nhờ được ngôi mộ tổ tam đại kết, ngôi mộ đó tọa khôn hướng cấn, ở xứ La Hào, thuộc làng An Thái, huyện Vụ Bản.
Đức Tiên Chúa lớn lên, da trắng phau phau, tóc mây xanh mướt, mắt long lanh như thu ba, mày vòng cong hình bán nguyệt, nhan sắc dị thường, trần gian hiếm có. Lê Thái Ông, cùng Lê Thái Bà yêu dấu như châu, như ngọc, cả ngày chỉ thay nhau bồng ẵm. Tháng ngày thoi đưa, chẳng mấy chốc mà Đức Tiên Chúa lên 5 tuổi, thường thường Đức Tiên Chúa ra chơi nhà ngoài, hỏi Đức Thái Ông những chữ trên câu đối, Lê Thái Ông bày qua cho một lượt, Đức Tiên Chúa nhớ suốt cả. Lê Thái Ông thấy tư chất thông minh, mới bày cho vịnh phú ngâm thơ và cho đi học, đến năm mười tuổi (1566) nào là ngũ kinh tứ thư, Đức Tiên Chúa đã thuộc lòng thông thạo, nói tóm lại Đức Tiên Chúa thông minh vốn sẵn từ trời.
Vả lại nhà Đức Thái Ông lại đông khách kẻ ra người vào, nên Đức Tiên Chúa không chuyên cần đặng sự học hành nghiên bút. Đức Tiên Chúa liền xin phép Lê Thái Ông cùng Lê Thái Bà ra ở riêng một cái nhà ở vườn sau cho tịnh, để đọc sách ngâm thơ, hai thân liền chiều ý Đức Tiên Chúa. Vì Lê Thái Ông cùng Lê Thái Bà thấy Đức Tiên Chúa thiên tự minh mẫn, nên đã làm sẵn cái nhà, đó là bản tâm để cho Tiên Chúa tịnh dưỡng, và tiện bề đèn sách. Đức Tiên Chúa thường hay đề thơ vịnh phú, đọc sách gẩy đàn.
Một ngày kia Lê Thái Ông dạo chơi trước sân, bỗng nghe Đức Tiên Chúa gảy tiếng đàn thanh tao, văng vẳng như nhạc quân thiên ở trên Thiên Cung mà ông đã nghe trong lúc mê thiếp theo hai viên lực sĩ ngày trước đó. Lê Thái Ông mới nghĩ rằng, con mình là người ở Thiên cung, thác sinh về nhà mình là nhà trần gian sợ không nuôi được, lấy làm lo cho tương lai của con. Nghĩ thế, liền bàn với Lê Thái Bà rằng, con mình tôi sợ e khó nuôi, chúng ta nên đem gửi cho ông bạn là Trần Công làm nghĩa nữ. Bàn thế, Đức Thái Ông cùng Thái Bà đồng ý, liền đem Đức Tiên Chúa gửi cho Trần Công, thì Đức Trần Công vui lòng nhận Đức Tiên Chúa làm nghĩa nữ.
Nguyên Đức Trần Công là một ông quan hồi hưu, dòng dõi Trần triều, kiều cư vào thôn Vân Cát, là quán của thân mẫu ngài. Sau khi Đức Trần Công đã bằng lòng nhận Đức Tiên Chúa làm nghĩa tử rồi, Đức Thái Ông làm cho Đức Tiên Chúa một cái biệt thự ở sân gần bên vườn hoa, cho Đức Tiên Chúa ra đó ở cho thanh tịnh, cố chăm nom đèn sách.
Không ngờ đó, về thôn Vân Đình cũng thuộc về làng An Thái lại có một nhà lão quan họ Trần không có con, nguyên một đêm kia, nhân khi nhàn hạ, gió mát trăng thanh, mới dạo gót ra vườn hoa chơi, tự nhiên gặp được người con trai ở dưới gốc cây đào, ngài Trần lão quan liền đem vào nuôi mà đặt tên là Đào Lang. Ngài xét thấy Trần Đào Lang thông minh đĩnh ngộ, diện mạo khôi ngô, Ngài liền cho đi học. Vì Trần lão Ông, cùng Trần lão Bà không có con cho nên thương chàng Đào Lang như con, đã hết sức dạy vẽ đủ điều, chẳng bao lâu đã văn hay chữ tốt, tiếng tăm lừng lẫy khắp trấn Sơn Nam.
Đến năm Quý Dậu niên hiệu Gia Thái nguyên niên, triều Vua Lê Thế Tôn (1573), chàng Đào Lang lên hai mươi tuổi, mà Đức Tiên Chúa đúng mười bảy tuổi. Thường ngày Trần lão quan hay qua lại chơi nhà Đức Trần Ông, thấy Tiên Chúa nhan sắc tuyệt vời, thông minh quán chúng, bèn cậy người mối chước tới Lê Thái Ông và Đức Trần Công để cầu hôn cho chàng Đào Lang. Song thân của Đức Tiên Chúa, và Đức Trần Công nghĩ rằng nhà họ Trần lão Ông cũng dòng dõi trâm anh, mà chàng Đào học hành cũng nức tiếng, đã đồng hương, lại cân đối tài sắc nên hai thân của Đức Tiên Chúa cùng dưỡng phụ dưỡng mẫu đều ưng thuận. Nhưng Đức Tiên Chúa một hai không chịu, chỉ muốn thanh tu cho khỏi trần lụy, nhưng Lê Thái Ông, cùng Lê Thái Bà đôi ba lần khuyên giải, và nhất định hứa hôn cho chàng Đào Lang. Tiên Chúa tự nghĩ đã xuống cõi trần, thôi cũng đành tạm kết duyên cho tròn kiếp, nên bất đắc dĩ cũng phải vâng lời cho đẹp lòng hai thân. Đến năm mười tám tuổi, Đức Tiên Chúa bái biệt thân phụ, thân mẫu, cùng dưỡng phụ, dưỡng mẫu để vu quy với chàng.
Khi Đức Tiên Chúa từ giã song thân, trở về cùng với lang quân, cử chỉ trong gia đình rất là nghi lễ, kính thờ, giữ đạo thần hôn, trong họ ngoài làng ai ai thấy đều khâm phục, đáng làm gương cho bạn nữ lưu: đạo đức, lễ nghi, trinh thuần, hiếu nghĩa, không thể tả đặng. Được một năm, Đức Tiên Chúa sinh được một người con trai, đặt tên là Trần Nhâm, mặt vuông tai lớn miệng rộng trán cao, thật là đúng trang hào kiệt. Những khi nhàn hạ, chàng Đào cùng Đức Tiên Chúa xướng họa thi ca, quang cảnh lạc thú trong gia đình ai thấy cũng khen ngợi.
Nhưng… than ôi! Tạo hóa trêu người, ông xanh cắc cớ, không ngờ chưa vui sum hợp đã sầu chia phôi. Đức Tiên Chúa tự nhiên không bệnh mà mất, hưởng linh được hai mươi mốt tuổi, tạ thế ngày mùng ba giờ Dần, tháng ba năm Đinh Sửu, niên hiệu Gia Thái ngũ niên, triều Vua Lê Thế Tôn (1577). Song thân, cùng dưỡng phụ, nhạc phụ đau lòng xiết nỗi thảm thương, làm lễ an táng rất hậu. Mộ Đức Tiên Chúa táng tại cây đa bóng, ở làng An Thái. Kế đó, Đức Lê Thái Ông buồn sầu theo con, rồi lâm bệnh cũng tạ thế, mộ cũng táng tại đó, tọa càn hướng tốn. Triều vua Gia Long thứ tư, đổi xã An Thái làm xã Tiên Hương đến nay vẫn còn đền thờ Đức Tiên Chúa tại đó.
Thánh Mẫu giáng sinh lần thứ ba (1609-1610)
Nguyên trước Đức Tiên Chúa giáng sinh lần thứ hai, hưởng thọ đặng hai mươi mốt năm (21 tuổi), vừa tạ thế. Khi lên chầu Đế Đình, thường thường Đức Tiên Chúa cứ sầu phiền sự trần duyên chưa mãn. Đức Thượng Đế sắc phong “Liễu Hạnh Công Chúa”, cho phép trắc giáng phi thường, tiêu diêu tự thích, Đức Tiên Chúa vâng mệnh lệnh về thẳng quê hương, hiện thân thăm tứ thân phụ mẫu, và lang quân, tử tức, cùng huynh đệ. Chính là năm Kỷ ão, niên hiệu Quang Hưng nhị niên triều vua Lê Thế Tôn (1579). Đức Tiên Chúa hiển thân về thăm quê hương hai lần, rồi Đức Tiên Chúa vân du thiên hạ, khi ẩn khi hiện phi thường, lúc ngoạn cảnh danh lam, khi tiêu diêu bồng đảo. Về sau chàng Đào tái sinh lại tức là Mai Sinh. Năm Kỷ Dậu, niên hiệu Hoàng Định thập niên, triều vua Lê Kính Tôn (1609), bấy giờ chàng Mai được hai mươi tuổi, Đức Tiên Chúa mới giáng hiện để tái hợp với chàng Mai Sinh. Đức Tiên Chúa qua Sòng Sơn tỉnh Thanh Hóa, có một dãy núi toàn là cây đào xanh tốt dưới lại có một hòn đá vuông bằng phẳng, Đức Tiên Chúa mới lấy cành lá quét sạch ngồi chơi, trông xem bốn bể cảnh trí thiên nhiên không khác đào nguyên tiên cảnh, nhưng hiềm một nỗi vắng khách tri âm, biết cùng ai ngâm thơ vịnh phú. Đức Tiên Chúa lại gần bên khe nước ném hoa rụng mà chơi, bỗng thấy gã thư sinh, hình dung tuấn tú, cốt cách phi phàm thẳng đường Tây Mỗ đi tới, Đức Tiên Chúa biết đích là Đức lang quân tái sinh mới đứng đường xa bảo rằng:“Tôi nhân đi chơi hội, vì quá vui chân bước tới đây, bây giờ quên cả lối về, may gặp quý khách qua đường, xin mang ơn chỉ giúp”.
Gã thư sinh kia ngỡ là con gái giang hồ, không bằng lòng nên giả cách không nghe, rồi cứ rảo bước đi thẳng. Nguyên gã thư sinh đó chính là chàng Đào Lang thủa trước nhân vì sầu uất cho nên lại tái sinh lần nữa, lần này tái sinh nhà họ Mai làng Tây Mỗ, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Chàng Mai Sinh tuổi mới hai mươi, chí khí khác thường, thông minh quán thế, song thân đều qua đời hết, anh em không có, nhà cửa lại nghèo, vợ con chưa có, ngày đó đi học về. Không ngờ lại gặp Đức Tiên Chúa, tính ngài nghiêm chỉnh ghét sự nguyệt hoa, vả lại ngài không nhớ kiếp tiền sinh của ngài nên mới cự tuyệt.
Ngày bữa sau, chàng Mai Sinh đi học lại đi ngang qua chỗ đó, thấy có một mảnh giấy dán ở cây đào trong có bài thơ vịnh cây đào rằng:
Diệm chất thiên nhiên bất giả tài
Phương tâm trinh thù kỷ niên lai
Khi dung trần tục đằng nhàn kiến
Trực đãi xuân quân thứ đệ khai
Tố nữ tương tri trường ngã chiếu
Phong di truyền tín vị thùy môi
Tảo tri lưu thủy vô tình luyến
Mạc tử phi hồng trục khách bôi
Dịch nghĩa:
Vóc đẹp trời sinh há sửa bày
Lòng thơm gìn giữ mấy năm nay
Dễ dàng mắt tục bao giờ thấy
Lần lượt mùi hoa đợi gió bay
Bóng nguyệt quen nhau sai đỏ mãi
Tình xuân đưa mối đợi ai rày
Sớm hay dòng nước tình xao lãng
Nỡ để hồng rơi dục khách say
Khám phá thêm trong chủ đề Tứ Phủ Thánh Mẫu:
Xem tất cả bài viết trong chủ đề →Bài viết liên quan
Những Lời Phát Nguyện Và Huấn Đồng Trước Khi Bắc Ghế Hầu Thánh
25/5/2026
Những lời phát nguyện và huấn đồng trước khi bắc ghế hầu thánh - 3 điều sám hối, 5 giới định trong tín ngưỡng Đạo Mẫu.
Xoay Khăn Sau Khi Mở Phủ
25/5/2026
Xoay khăn sau khi mở phủ - giải đáp thắc mắc về việc xoay khăn trong tứ phủ cho các đồng tân linh mới.
Mộc Ân Thanh Đồng Dẫn Trình Nghi Thức
25/5/2026
Mộc ân thanh đồng dẫn trình nghi thức - tài liệu sưu tầm về nghi thức dẫn trình thanh đồng trong tín ngưỡng Đạo Mẫu.
