Đền Sái (Đông Anh, Hà Nội)
Tóm tắt chính
Tìm hiểu về Đền Sái tại Đông Anh, Hà Nội – khu di tích lịch sử văn hóa có giá trị tâm linh từ thời An Dương Vương.

Thông tin cơ bản
Đông Anhlà vùng đất địa linh nhân kiệt, nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hóa đặc sắc từ thờiAn Dương Vương. Từ trung tâm huyện, đi theo đường Đản Dị về xã Thụy Lâm, bạn sẽ đếnkhu di tích đền Sái, một điểm du lịch vừa có ý nghĩa lịch sử, vừa có giá trị tâm linh đã được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia, được nhiều người biết đến.
Truyền thuyết
Đền Sái nằm trên đỉnh ngọnThất Diệu Sơn, giữa cánh đồng tiếp giáp với huyện Yên Phong (tỉnh Bắc Ninh), cáchdi tích Cổ Loa15 km về phía bắc.
Chuyện kể rằng: Bấy giờ,Thục Vươngđắp thành ở đất Việt Thường rộng nghìn trượng, cuốn tròn như hình con ốc nên gọiLoa Thành. Thành cứ đắp xong lại đổ, vua lấy làm lo mới trai giới để khấn trời đất và thần sông núi rồi khởi công đắp lại. Vua hỏi nguyên cơ vì sao thành xây lại đổ nhiều lần,Rùa Vàngđáp đó là tinh khí của núi sông vùng này có con quỷ Bạch Kê tinh nấp trongnúi Thất Diệu. Sau khithần Kim Quytrợ giúp vua trừ diệt Bạch Kê Tinh, thành Cổ Loa mới xây xong. Tưởng nhớ công tích đó, nhà vua cho xây đền để thờHuyền Thiên Trấn Vũtrên đỉnh núi Sái.
Theo truyền thuyết kể lại, các nàng tiên nữ đượcNgọc Hoàngcử xuống gánh đất để xây thành cho nhà Thục. Khi họ gánh đất về đến đền Sái thì bị con Bạch Kê trêu chọc. Các nàng đã làm rơi đất ở đây, nên mọc dần lên 7 ngọn núi. Vì thế, những ngọn núi này có tên làThất Diệu Sơn. Có lẽ, liên quan đến sự tích này, mà đến nay, vẫn có giếng trong vắt trên đỉnh núi, mà dân gian gọi làGiếng Cô Tiên. Hầu như quanh năm, mạch nước ngầm đưa về giếng, không bao giờ cạn. Dân viếng đền xong, đến đây, uống nước thần tiên, hy vọng mọi điều tốt lành sẽ tới.
Sử sách ghi: nămThuận Thiên thứ hai 1011, vuaLý Công Uẩn, sau khi dời đô Hoa Lư về Thăng Long đã tìm về đền Sái. Vua Lý rất giỏi chữ Hán, phong thủy, ông biết được phương Bắc có ngôi chùa thờquan Trấn Vũrất linh thiêng. Vì thế, vua đã lên đền Sái làm lễ rước cờ hiệu, đưa đức Huyền Thiên Trấn Vũ vềkinh đô Thăng Long. Cũng năm đó, vua Lý Công Uẩn cho người xâyđền Quán Thánhbên Hồ Tây, không chỉ thuận lợi cho việc làm lễ thờ cúng mà còn để . Hiện đền Sái vẫn còn lệnh bài của vua Lý Công Uẩn:“Nay Trẫm lập thêm ngôi đền nữa, đầu hồ Cửa Bắc để thờ Người; rước duệ hiệu về nơi Kinh thờ cúng”.
Lại cũng truyền thuyết khác kể rằng, Lý Thái Tổ sau khi dời đô ra Thăng Long, đã đếnnúi Sáicầu Huyền Thiên và sinh được hoàng tử. Thấy công đức của Huyền Thiên rất to lớn, nhà vua đã cho xâyđền Trấn Vũ (tức đền Quán Thánh)ở phía bắc kinh thành, và trở thành một trongThăng Long tứ trấn. Đền Sái, nói cách khác là đền thờ gốc củađền Quán Thánh.
Kiến trúc
Tổng quan
Đền được xây dựng theo kiểu kiến trúc cổ“Tiền Thần hậu Phật”. Cổng đền cao chót vót; Tam quan có ba cửa chính và hai cửa phụ nên còn được gọi là ngũ môn quan. Người xưa khắc đôi câu đối:
“Lâu đài chiêm bái lòng ngưỡng vọng
Tam quan xã ngắm thấy cao vời”
Qua cổngTam quanlà tớigác chuông. Đây là một công trình đẹp, nhưng đã bị hủy hoại tư lâu, đến năm 1989 được khôi phục trùng tu. Trên gác treo quả chuông do dân làng Nhội đúc nămThành Thái thứ 10 triều Nguyễn. Đặc biệt, nhà Kính Thiên, có kiến trúc độc đáo với tám mái chồng diêm. Chính giữa nhà Kính Thiên là tấm bia trụ“Huyền Thiên Đạo Quán”, dựng nămChính Hoà Tân Tỵ (1701). Bốn mặt bia đều khắc chữ ca ngợi cảnh đẹp vùng núi Sái, lịch sử và công đức của thành Huyền Thiên Trấn Vũ. Trán bia có ba tầng hoa văn đặc sắc với hình hoa sen, gà trống chạm nổi, rất sinh động,và rắn thần vươn cổ, nghểnh đầu, đầy uy lực.
Nhà tiền tếmới được trùng tu năm 1999. Trong hậu cung còn lưu giữ được nhiều cổ vật quý hiếm, mang dấu tích vàocuối thời Lê, đầu thời Nguyễn. Phía sau đền Sái là chùa Thích Ca, nơi sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân địa phương. Phía bên trái đền Sái có hòn núi nhỏ tên gọi là Châu Lai, trên đó có một ngôi đền toạ lạc, nhân dân gọi làđền Thượng, thờ thầnCao Sơn Đại VươngthờiHùng Vương.
Phong cảnh ở khu vực đền cũng rất đẹp. Bao quanh khu đền là rừng cây xanh tươi với nhiều cổ thụ, ven con đường dẫn ra sau rừng cây là những viên đá với hình thù kỳ lạ, không biết có tự bao giờ.
Nghi môn
Phía trước Nghi môn là sân trước đền, bao quanh bởi cánh đồng lúa. Chính giữa trục của sân trước đền có một bức đại tự bằng đá. Hai bên sân có hai ao hình tròn, có tên làAo Tiên.
Nghi môn đặt trên sườn đồi. Từ đường lên tới Nghi môn phải qua một hệ thống bậc với15 bậc chính và hai dãy bậc nhỏhai bên. Phân cách giữa dãy bậc chính và dãy bậc phụ hai bên là lan can đá chạm hình tượng rồng.
Nghi môn (Ngũ môn quan) đền Sái tạo thành một khối cổng có tới5 lối ra vào. Khối cổng chính giữa tương tự như tam quan của các ngôi đình, đền khác với cổng chính rộng, mái chồng diêm 2 tầng, 8 mái. Phân chia 3 cổng là trụ tường, thân trụ có các ô câu đối.
Giới hạn hai bên của khối cổng chính là2 trụ biểumỗi bên. Hai trụ biểu phía ngoài, đỉnh trụ trang trí con nghê chầu; Hai trụ biểu phía trong, đỉnh trụ trang trí tứ phượng. Cả 4 trụ biểu có thân trụ phía trên trang trí các ô lồng đèn, phía dưới trang trí câu đối, đế thắt dạng cổ bồng. Giữa trụ biểu và cổng là mảng tường trang trí hình tượng voi. Hai cổng phụ hai bên nhỏ, có mái che. Rìa của cổng phụ cũng có 2 trụ biểu nhỏ, trang trí đơn giản.
Sân đền, Gác chuông và tòa Kính Thiên
Sân đền sau Nghi môn được
chia thành nhiều bậc thềm
, lên cao dần. Giữa các bậc thềm là hệ thống bậc cho người đi lại.
Gác chuông nằm trên một bậc thềm cao, phía sau Nghi môn. Công trình3 gian, 2 chái, cao 2 tầng, theo kiểuchồng diêmvới 8 mái; bốn phía không có tường bao quanh; các cột chính bằng gỗ, riêng 4 cột góc xây gạch. Công trình mới được phục dựng lại từ năm 1989.
Tòa Kính Thiên nằm trên một bậc thềm cao hơn bậc thềm đặt Gác chuông, sát phía trước tòa Tiền tế. Công trình có mặt bằng hình vuông; mái chồng diêm; 2 tầng 8 mái; 4 cột trong bằng gỗ; 4 cột góc xây gạch.
Tiền tế
Tòa Tiền tế đặt trên một bậc thềm cao hơn bậc thềm đặt tòa Kính Thiên. Công trình mới được trùng tu năm 1999, gồm 5 gian, 4 mái.
Chính điện
Chính đền Sái nằm kề liền tòa Tiền tế, có cấu trúc mặt bằng kiểu “chữ công” hay chữ H, gồm Tiền đường (Bái đường), Thiêu hương và Hậu cung (Chính ngự).
Tòa Tiền đường 5 gian, 4 mái, Hậu điện 3 gian, 4 mái, tòa Thiêu hương 1 gian đặt dọc nối liền tòa Tiền đường và Hậu cung.
Nền nhà Hậu cung vẫn còn lưu lại những viên gạch lát cổ, mặt gạch có dạng vân rồng.
Chùa và nhà Mẫu
Phía sau Chính điện lànhà Phật, haychùa Thích Ca. Công trình được xây dựng cùng thời với đền Sái, có mặt bằng hình “chữ đinh” hay chữ T, gồm tòa Bái đường 5 gian và tòa Hậu đường 2 gian.
Ngoài ra, phía sau đền Sái còn có các công trình thờMẫu Tam Phủnhư nhà Mẫu, Lầu cô, Lầu cậu…
Phía Đông Bắc của đền Sái cógiếng Tiên, là một hốc đá nằm bên trong một tảng đá chứa đầy nước.
Di vật
Đền có nhiều đồ thờ cổ, tiêu biểu là cây hương đá, niên hiệuChính Hoà (cuối thế kỉ XVII)và các viên gạch lát có vẽvân rồng thời Lê.
Trong chùa còn lưu giữ được hệ thống tượng phật đẹp có giá trị. Ban thờ Hậu cung có tượngHuyền Thiên Trấn Vũ, là tượng đất, nhưng rất to lớn bề thế, cao 2,25m, đường kính 0,9m, một chân đạp lên lưng rùa, chân kia dẫm lên lưng con rắn. Phía sautượng Huyền Thiên Trấn Vũlà các pho tượng hầu cận nhỏ hơn và bàn thờ thân phụ, thân mẫu của Ngài.
Sự kiện
Nếu về đây vàongày 11 tháng Giêng, bạn sẽ được hòa vào không khí củalễ hội Rước vua giả, một trong những lễ hội đặc sắc nhất của người dân đồng bằng Bắc Bộ dịp đầu xuân, thưởng thức móngiò mođộc đáo, hay mónxôi vòđược nấu từ gạo nếp cái hoa vàng của vùng quê Thụy Lôi.
Với giá trị nhiểu mặt về lịch sử kiến trúc văn hóa, đền Sái đã được Nhà nước xếp hạngDi tích Lịch sử Nghệ thuật Kiến trúcngày 27/01/1986.
Văn khấn Đền Sái
Nam mô a di Đà Phật!
Nam mô a di Đà Phật!
Nam mô a di Đà Phật!
Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.
Con xin kính lạy ngài Kim Niên Đương cai Thái tuế chí đức Tôn thần.
Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành Hoàng chư vị Đại Vương.
Hưởng tử con là…
Ngụ tại…
Hôm nay là ngày … tháng … năm ….
Hương tử con đến Đền Sái, thành tâm kính nghĩ: Đức Đại Vương nhận mệnh Thiên đình giáng lâm ở nước Việt Nam làm Bản cảnh Thành Hoàng chủ tể một phương bấy nay ban phúc lành che chở cho dân. Nay hương tử chúng con thành tâm dâng lên lễ bạc, hiến tế hương hoa, phẩm oản…
Cầu mong đức Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương chứng giảm, rủ lòng thương xót, phù hộ che chở cho chúng con sức khoẻ dồi dào, mọi sự tốt lành, lắm tài nhiều lộc, an khang thịnh vượng, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.
Hương tử con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.
Nam mô a di Đà Phật!
Nam mô a di Đà Phật!
Nam mô a di Đà Phật!
Khám phá thêm trong chủ đề Đền Phủ:
Xem tất cả bài viết trong chủ đề →Bài viết liên quan
Đền Xuân Am (Nghệ An)
24/5/2026
Tìm hiểu về Đền Xuân Am (Nghệ An) – ngôi đền nổi tiếng thờ Ông Hoàng Mười trong tín ngưỡng Đạo Mẫu Tứ Phủ.
Đền Voi Phục – một trong "tứ trấn" của vùng đất Thăng Long Hà Nội
24/5/2026
Tìm hiểu về Đền Voi Phục – trấn Tây thành Thăng Long, một trong tứ trấn của vùng đất Hà Nội với giá trị văn hóa tâm linh đặc biệt.
Đền thờ Trần Hưng Đạo (đền thờ Trần Quốc Tuấn – Hà Trung, Thanh Hoá)
24/5/2026
Tìm hiểu về Đền thờ Trần Hưng Đạo (đền Thổ Khối) tại Hà Trung, Thanh Hóa – nơi thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.
