Chầu Tám Bát Nàn
Tóm tắt chính
Tìm hiểu về Chầu Tám Bát Nàn - Nữ Tướng Bát Nàn, Ngọc Hoa Công Chúa con gái Hùng Vương, vị nữ tướng anh hùng thời Hai Bà Trưng.

Chầu Tám Bát Nàn (Nhạc Phủ) – Danh hiệu: Nữ Tướng Bát Nàn – Màu sắc đại diện: màu vàng.
Danh hiệu: Chầu Tám Tiên La; Nguồn gốc: Ngọc Hoa Công Chúa, con gái Hùng Vương; Phủ/nơi cai quản: Nhạc Phủ hoặc Địa Phủ; Sắc phong: Bát Nàn Đại Tướng Quân, Trinh Thục Công Chúa (Trưng Vương) – Ý Đức Đoan Trang Trinh Thục Công Chúa (Lê Thánh Tông) – Dục Bảo Trung Hưng Linh Phù Chí Thần (Nguyễn Thánh Tổ) – Dục bảo Trung Hưng Linh Phù Thượng Đẳng Thần (Nguyễn Hoằng Tông); Trang phục/Màu sắc: Vàng

Chầu Tám Bát Nàn
Chầu Tám Bát Nàn, còn được biết đến với tên gọi Chầu Bát Nàn hay Bát Nàn Đại Tướng Đông Nhung, là một trong những vị Thánh Chầu thuộc hàng Tứ Phủ. Chầu đến từ miền Thượng ngàn.
“Sắc phong Đại tướng Bát Nàn
Danh tên nữ tướng, Vương ban lưu truyền.
Rằng xưa thời trước công nguyên
Chầu là tiên nữ trên thiên giáng trần”
Thần tích Chầu Tám Bát Nàn
Chầu Tám Bát Nàn giáng hạ vào thời kỳ nước ta còn đang chịu ách đô hộ của nhà Đông Hán, với tên gọi Vũ Thị Thục Nương, con gái của thầy thuốc Vũ Chất, quê quán tại Phượng Lâu, huyện Kim Động, trấn Sơn Nam (nay thuộc tỉnh Hưng Yên). Thân phụ của bà là một người thầy thuốc nổi tiếng với nhiều việc phước đức. Bà được biết đến không chỉ bởi vẻ đẹp mà còn bởi tài năng võ nghệ của mình.
Phượng Lâu là một vùng đất gò đồi rậm rạp bên dòng sông Lô, thuộc cố đô Văn Lang cũ. Thời Tô Định nhà Đông Hán làm thái thú quận Giao Chỉ, Phượng Lâu thuộc châu Bạch Hạc. Nơi đây có nhiều đầm hồ và khe suối, với những cánh đồng cỏ cây xanh tươi, đồi nối tiếp gò, nhà cửa được xây dựng trên những ngọn đồi, đá xếp thành bậc. Mỗi nhà đều có vài ống nước dẫn từ nguồn về. Người dân trồng lúa, bắt cua, kiếm cá, và sống bằng nghề săn bẫy thú và đào củ. Những chàng trai cô gái lớn lên, vào mùa xuân thường rủ nhau hát đối, nếu hợp ý sẽ mời nhau về nhà thưởng trầu cau và hát tiếp.
Vũ Công Chất là hào trưởng tại Phượng Lâu, được giao quyền quản lý mười hai trang trong hạt. Ông treo một chiếc trống lớn trước nhà, khi có việc cần, chỉ cần gõ một hồi là dân làng sẽ tập trung lại. Nhà ông có người hầu trai, người hầu gái, chó để săn và giữ nhà, cùng ngựa để cưỡi. Hào trưởng họ Vũ đã yêu thương Hoàng Thị Mầu, người cùng trang, và họ sống với nhau rất hòa thuận. Vũ công biết nghề thuốc, thường đi xa hàng tháng để tìm kiếm những loại cây quý hiếm ở các vùng khác nhau, dạo gót khắp 36 châu để hái thuốc và chữa bệnh. Mọi việc trong nhà và việc các trang đều do vợ lo liệu. Vũ công thường đến làm thuốc tại Mãn Châu. Một hôm, trong lúc đi hái thuốc, Vũ công tình cờ phát hiện một ngôi miếu cổ, tường đổ mái xiêu, nồi hương lạnh ngắt, rêu xanh phủ dày. Trong lúc đang ngắm nhìn, ông gặp một lão ông gánh hai bó củi đi tới, liền vái chào và hỏi về ngôi miếu. Lão ông đặt gánh củi xuống, cùng ngồi nói chuyện, và nhờ đó, Vũ công biết đây chính là miếu thờ Sơn Tinh công chúa húy Ngọc Hoa, vợ của Sơn thánh Tản Viên. Miếu này xưa kia nổi tiếng linh thiêng, nhưng trải qua nhiều biến loạn, dân cư phiêu bạt nên giờ đã hoang tàn. Vũ công than thở hồi lâu và ngỏ ý muốn cùng dân làng trùng tu lại ngôi miếu. Mọi người nghe đều vui mừng. Cuối cùng, Vũ công đã bỏ tiền ra cùng với trưởng trang xây dựng lại ngôi miếu, và tạc một pho tượng Sơn Tinh công chúa để thờ.
Gió thu thổi vàng cả cây lá, mùa đông đến mang theo những làn gió lạnh. Vũ công từ biệt Mãn Châu trở về quê, dân làng vui mừng đến thăm hỏi, cũng có người đến nhờ chữa bệnh. Bà Hoàng Thị Mầu cũng vui mừng khi thấy chồng vẫn khỏe mạnh, lại tìm được nhiều thuốc quý để cứu chữa cho những người bệnh tật.
Vào một đêm, Vũ công nói chuyện với vợ về việc sửa miếu và tô tượng thờ Sơn Tinh công chúa ở Mãn Châu, vợ ông vui vẻ nói rằng: “Công chúa tên húy là Ngọc Hoa, con gái đức Hùng Duệ Vương, lại là vợ của Tản Viên Sơn thánh thần núi Ba Vì, tài cao phép lạ, có công lớn giúp nước yên dân. Nay ta trùng tu miếu của công chúa cũng là để bày tỏ tấm lòng kính nhớ tổ tiên vậy”. Vũ công gật đầu tán thành, vì ông luôn nhớ đến các vua Hùng và căm phẫn trước sự xâm lược của quân giặc Hán.
Hai vợ chồng đang trò chuyện thì bỗng nghe có tiếng gọi ở cổng: “Xin mời Vũ công ra bến sông mà đón bè gỗ”. Ông bà còn đang bỡ ngỡ thì lại nghe có tiếng nói sang sảng: “Vợ chồng Vũ công chớ hồ nghi, ta là bộ hạ của Sơn Tinh công chúa, được lệnh đem đến cho ngươi một bè gỗ quý và một người con gái tài sắc hơn đời, ngươi mau ra mà tiếp nhận!”. Vũ công bèn bảo gia nhân đốt đèn đuốc, cùng nhau ra bến sông, quả nhiên có bè gỗ nằm bên bờ, mỗi cây gỗ đều lớn tày ôm. Khi hai vợ chồng trở về, đang ngồi nói chuyện, chưa hết ngạc nhiên, lại có tiếng một cô gái thỏ thẻ: “Mẹ ơi, mở cửa cho con vào với!”. Lập tức, một bóng người con gái mặc áo màu hoa sen bước vào nhà, nhào vào lòng bà Hoàng Thị Mầu rồi biến mất.
Sau đó, bà Hoàng Thị Mầu mang thai, đủ chín tháng mười ngày sinh được một cô gái trắng trẻo xinh xắn. Sự ra đời của Thục nương không chỉ khiến hai vợ chồng Vũ công mừng rỡ mà còn thu hút sự chúc mừng từ dân các trang bản xung quanh. Vũ công đã đặt tên con là Thục.
Thục nương càng lớn càng tươi đẹp, da như vỏ trứng, má hồng môi thắm, đôi mắt sáng và mày cong, dáng người mềm mại như cây liễu mùa xuân. Đến năm mười sáu tuổi, Thục nương xinh đẹp như bông phù dung nở rộ, sách đọc chỉ một lượt là thuộc, kiếm múa như gió thổi hoa bay, mỗi khi ra ngoài ai nấy đều tôn sùng gọi nàng là “Nữ tiên hạ thế”.
Thục nương thường thích ngồi thuyền dạo chơi trên sông Lô, có khi mở lưới quăng chài cùng các bạn gái, có khi vừa chèo vừa hát, tiếng hát ngân nga trên mặt sông. Một dải sông dài trong xanh, những cánh buồm phồng gió xuôi dòng như đàn bướm trắng khổng lồ đùa nắng. Đôi ba bè gỗ từ thượng nguồn về trôi lờ đờ chậm chạp, một con cò trắng duỗi thẳng chân lượn theo rồi lại vỗ cánh bay về phía lũy tre làng. Trên doi cát bạc, mấy chú bồ nông đứng im lặng nghiêm trang như đang nghĩ ngợi điều gì. Đôi bờ xanh ngắt vang tiếng gà gáy chó sủa, những làn khói thổi cơm chiều bay lên rồi loãng dần và tan vào màu xanh của bầu trời mát dịu. Vào mùa cá, trai gái vừa buông lưới vừa hát đối với nhau. Mùa thu trăng tỏ, trai gái ngồi dưới bờ tre cùng hát. Thục nương rất thích hát đối và mỗi khi nàng cất giọng, mọi người đều ngơ ngẩn lắng nghe. Nàng nhanh trí nên trong cuộc hát đối, chàng trai nào cũng phải chịu thua vì không tìm được lời hát lại.
Thục nương cũng thích đua thuyền trên sông. Tay chèo mạnh, mái chèo đập nước, Thục nương lại hò một câu hò ngắn và các bạn nàng cất tiếng “huê” vang để giữ nhịp tay chèo:
Thuyền ta – ” huê ” !
Rẽ sóng – ” huê ” !
Cò trắng – ” huê ” !
Bay vòng – ” huê ” !
Dòng sông – ” huê ” !
Xanh ngắt – ” huê ” !
Ta bắt – ” huê ” !
Con trôi – ” huê ” !
Ta lôi – ” huê ” !
Con chép – ” huê ” !
Tiếng hò mỗi lúc một gấp, những chiếc thuyền gỗ dài mình, nhọn mũi vùn vụt trôi. Các bạn trai cũng không chịu thua con gái, cố sức cho thuyền vượt, không kịp nghĩ các câu hò, chỉ hò gấp một điệu: “ơi khoan – huê !”… Mỗi tiếng hò là người lại ngả về sau, mỗi nhịp “huê” là người lại cuối rạp về phía trước, mái chèo đẩy sóng bọt nước bay tung.
Một ngày, Thục nương cùng các bạn gái đập trám trên một gò cao, các cô nhặt những quả trám đen bỏ vào những chiếc giỏ tre nho nhỏ. Vũ công đi thăm người bệnh về, nhân thể tạt qua rủ con cùng trở lại nhà. Chợt mọi người cùng nhìn thấy ở đường nhỏ bên kia đầm nước có một người con gái trạc tuổi Thục nương, gương mặt tròn trặn bầu bĩnh, mặc áo lụa xanh, yếm tơ vàng, cưỡi con ngựa đen nhánh, bờm bay như mây tỏa. Những người đi theo nàng đều cầm giáo vác lưới, khiêng một con nai lớn, đàn chó hung hăng nhảy nhót theo chân. Người con gái ấy nét mặt nghiêm trang mà tươi tắn, thoạt nhìn thấy nàng, Thục nương đã đem lòng yêu mến, bèn hỏi cha: “Nàng đó là ai?”. Vũ công trả lời: “Đó là Nàng Nội, con gái yêu của quan chủ trưởng châu ta đấy”. Thục nương nói: “Người con gái ấy quả là xinh đẹp, nhưng không biết có tài cán gì không?”. Vũ công nghiêm mặt mà rằng: “Con nói những lời kiêu ngạo, không xứng đáng với nền nếp nhà ta. Vả lại Nàng Nội là gái anh hùng, tài đức ấy con sao sánh kịp. Nàng là con gái quan trưởng châu ta đấy. Ngài là người uy vũ hơn đời, ân đức trùm khắp, thương dân như con, lại dòng dõi lạc tướng. Nếu nàng đến nhà ta, cha sẽ phải mở rộng cửa giữa đón tiếp, còn con thì chỉ được têm trầu mời nước mà thôi”. Thục nương biết mình lỡ lời, mặt đỏ bừng, không dám nói nữa.
Vũ công thương yêu con gái rất mực, nhưng ông không nuông chiều mà luôn nhắc nhở con phải khiêm tốn, giữ gìn phẩm giá, kính trọng người già, giúp đỡ người yếu. Thục nương được sự dạy dỗ của cha mẹ nên được mọi người quý trọng vì nết na và yêu mến vì tài năng.
Một hôm, có ba chiếc thuyền cập bến Phượng Lâu, người dưới thuyền lên bờ, con trai đều chít khăn đầu rìu màu đỏ, thắt lưng đỏ, con gái đều mặc áo màu yếm lụa, các cụ chống gậy, ve vẩy chiếc quạt cọ. Đoàn người hỏi thăm đường về trang trại Vũ công. Có hai người đội hai mâm trầu cau đi trước, hai người khiêng rượu theo sau. Vũ công đón tiếp vui vẻ, lòng có ý mừng, vì đó là Phạm Danh Hương đã cùng gia đình đem cơi trầu đến cầu hôn Thục nương. Phạm Danh Hương là con vị hào mục cai quản mười ba trang trại ở Nam Chân, bên kia sông, chính quê ở Liệt Trang, Vũ công đã qua đó làm thuốc nên có quen biết vị hào mục và biết Phạm Danh Hương. Phạm Lang năm ấy tuổi ngoài hai mươi, hình dung tuấn tú, văn võ tinh thông, nghe tiếng Thục nương là khách anh tài, hiền hòa đức độ nên đến đặt trầu cau dạm hỏi. Khách ở lại ba ngày, chủ khách tâm đầu ý hợp. Thục nương têm trầu cánh phượng ra tiếp, thấy Phạm Lang mày xanh mắt sáng, nói năng từ tốn, cử chỉ khiêm cung nên cũng vui lòng ngỏ lời kết ước. Hát đúm ba đêm, con gái cất lời hát trước, ném chiếc khăn tay bọc trầu cau và một đồng tiền cho con trai. Con trai bắt lấy quả đúm hát đối lại và ném trả quả đúm cho người con gái. Theo lệ, trai gái đính hôn phải hát với nhau, người con trai giữ lấy quả đúm, mở ra ăn miếng trầu và trao lại cho người con gái miếng trầu khác. Nếu người con gái cũng ăn trầu là coi như việc hôn nhân đã đính. Từ ngày ấy, Thục nương bắt đầu dệt vải, may chăn thêu áo, chờ mùa thu sang năm qua sông về làm vợ Phạm Lang.
Có hào mục họ Trần cũng lại cầu hôn với Thục nương. Hào mục họ Trần năm ấy tuổi đã bốn mươi, nhà giàu nổi tiếng ở châu Bạch Hạc, trong nhà có ngà voi, sừng tê, lông công, lông trĩ treo kín vách, quế thơm chất đầy hòm, trâu thả hàng đàn, thóc chất hàng vựa. Trần cậy mình có của nên đến hỏi Thục nương, mặc dầu biết Thục nương đã hứa hôn rồi. Vũ công lựa lời từ chối, họ Trần mang lòng oán giận, lấy việc bị từ hôn làm điều sỉ nhục, ngày đêm nghĩ cách trả thù. Họ Trần bèn kết thân với bọn quan Hán, rồi xin được gặp Tô Định, hết lời ca tụng sắc đẹp Thục nương. Tô Định nghe lời họ Trần, tâm thần mê mẩn, muốn được giáp mặt Thục nương để xem hư thực thế nào. Một hôm Tô Định cùng một bọn quan quân giả làm khách buôn ghé thuyền vào bến Phượng Lâu, xin yết kiến Vũ công. Vũ công đón tiếp tử tế. Thục nương mời trầu nước rồi lui gót. Tô Định mới được gặp Thục nương trong chốc lát mà đã mê mẩn tâm thần, bèn nói với bọn quan hầu rằng: “Người con gái này nếu không phải là Hằng Nga nơi cung Quảng thì cũng là tiên nữ chốn Bồng Lai, ta quyết phải đón nàng về Phủ, cùng nàng vui thú như Ngô vương với Tây Thi mới thỏa tấm lòng!”. Ở Phượng Lâu hai ngày, Tô Định cáo từ ra về, lập tức ra lệnh triệu Vũ công tới Phủ thái thú. Vũ công nhận lệnh không rõ có việc gì mà Phủ thái thú lại gọi đến mình, nhưng cũng phải thu xếp theo viên sứ lên đường ngay. Tới nơi Tô Định mở tiệc đón mừng, tôn Vũ công ngồi ghế trên. Vũ công nhận ra Tô Định chính là khách buôn người Hán vừa ghé nhà mình, lòng càng lo ngại, từ chối không dám ngồi trên. Tô Định lại cho Vũ công ngồi ngang mình rồi trong tiệc rượu ngỏ ý xin Thục nương để lập làm phu nhân. Vũ công giật mình đặt chén mà rằng: “Thục nữ xấu xí đã nhận lời kết hôn với con vị hào mục ở Nam Chân rồi”. Tô Định đưa lời ép buộc, Vũ công một mực chối từ. Tô Định nổi trận lôi đình, truyền đánh chết Vũ công, lại cho lệnh triệu ngay cha con hào mục Nam Chân về hầu. Khi Phạm Danh Hương và cha vừa tới nơi, Tô Định thét quân dưới trướng lấy gậy đánh chết cả hai cha con, lại phát lệnh cử một đạo quân về Phượng Lâu trang bắt lấy Thục nương đưa về thành phủ.
Viên nha tướng Phủ thái thú đem hai trăm binh mã về tới Phượng Lâu vây kín các ngả, rồi nói với bà Hoàng Thị Mầu và Thục nương rằng: “Quan thái thú cho bản chức đón Thục nương về phủ lập làm phu nhân. Hiện Vũ công vẫn lưu lại ở phủ chờ Thục nương để cho cử hành hôn lễ”. Cùng hôm ấy, một người nhà đi theo hầu Vũ công từ Phủ thái thú trốn được về, bèn đem hết mọi chuyện tàn ác của Tô Định ra nói, vừa nói vừa khóc. Mẹ con Thục nương nghe tin ngất đi mấy lần, vật mình nức nở.
Người hầu gái thân tín thưa rằng: “Giặc đóng quanh nhà, chờ sáng mai đưa Nàng về Phủ. Lúc này không phải là lúc than khóc, xin Nàng mau tính kế thoát thân”. Thục nương nghe ra, bèn nuốt đau ngậm hờn, truyền cho người nhà lén đưa mẹ ra khỏi trang tìm nơi ẩn náu, còn mình thì nai nịt gọn gàng, kiếm cầm tay, cho mời viên nha tướng vào nói chuyện. Viên tướng Hán đang cơn say rượu chệnh choạng bước vào, liền bị Thục nương phóng kiếm, đổ vật xuống đất. Thục nương múa kiếm cùng gia nhân phá vòng vây. Giặc hò nhau đuổi, tình thế rất gấp. Thục nương truyền cho gia nhân rẽ sang ngã khác rồi một mình lén theo đường tắt ra sông, may gặp chiếc thuyền nhỏ bên bờ, liền nhổ thuyền thả xuôi dòng nước. Lúc ấy mặt trời đã lặn. Thuyền trôi vùn vụt trong đêm, tới khoảng canh tư thì dạt vào bến. Thục nương bước lên, thấy vài chiếc lều quán chợ rảo bước vào phía trong gặp một tòa miếu cổ, cửa miếu hé mở, liền vào ẩn trong miếu.
Gà vừa gáy sáng, chợ đã có người đến họp. Vài người đi chợ sớm rẽ vào tòa miếu, thấy có vết máu, kinh lạ nhìn lên thượng cung, thấy một cô gái ngồi phục ở đấy. Cô gái thấy có người, đập kiếm mà rằng: “Giặc Tô tới đây, nhất định phải chết!”. Những người đi chợ sợ hãi kêu to lên, mọi người đổ tới vây kín lấy miếu, bàn tán xôn xao. Có một cụ già tiến lên nói với cô gái: “Chúng tôi là dân làng đây, đều là dân làm ăn lương thiện, làm gì có giặc Tô nào ở đây. Còn nàng từ đâu đến?”. Thục nương bèn từ thượng cung bước xuống. Mọi người nhìn xem, thấy là một người con gái xinh đẹp, tuổi trạc đôi mươi, hai tay cầm hai thanh kiếm, áo quần còn dính vết máu, ai nấy đều lạ lùng, cất tiếng hỏi thăm. Thục nương nghe hỏi, nước mắt trào ra, nói rằng: “Tôi là người ở trang Phượng Lâu, châu Bạch Hạc. Giặc Tô tham sắc, muốn bắt tôi về hầu hạ nó, nhưng tôi là gái đã hứa hôn, khi nào lại chịu làm điều sĩ nhục ấy, Tô Định bèn giết cha và chồng tôi, giết cả bố chồng tôi rồi cho quân vây bắt tôi. Tôi chém tướng phá quân, một mình về được tới đây, không ngờ lại được các cụ dân trang chào hỏi. Nếu như giặc Tô theo đến, tôi quyết cùng chúng một trận sống mái.”
Cũng trong tích này còn lưu truyền câu chuyện, khi dấy binh khởi nghĩa ở Tân La thì chầu bà đã nghe tiếng Hai Bà Trưng hiệu triệu, nhưng còn băn khoăn chưa biết có nên tập hợp nghĩa quân cùng với Hai Bà Trưng không, thì vào đêm đó chầu nằm mơ thấy nữ thần vâng lệnh Ngọc Hoàng xuống trao cho chầu bà lá cờ thần và khuyên chầu hội nghĩa theo Hai Bà Trưng phất cờ dẹp giặc, và Chầu đã làm theo ý trời về Mê Linh tụ nghĩa. Chầu được Bà Trưng Vương phong cho là Bát Nàn Đông Nhung Đại Tướng Quân, cùng chầu Bảy Kim Giao và Lê Chân Tướng Quân (Thánh Thiên Công Chúa) trấn giữ miền duyên hải từ Hải Phòng đến Thái Bình.
Năm 43 (SCN), sau ba năm nước nhà độc lập, quân Đông Hán dưới quyền chỉ huy của Mã Viện, quay lại xâm chiếm nước ta, bà cùng với Hai Bà Trưng kiên cường đánh trả, nhưng do thế yếu cuối cùng chầu cũng theo gương Hai Bà, trẫm mình để bảo toàn khí tiết. Thi thể của Chầu trôi dạt đến đâu, nhân dân lập đền thờ ngài ở đó.
Đền thờ Chầu Tám Bát Nàn
Đền thờ Chầu Tám Bát Nàn có ở rất nhiều nơi, nhưng nổi tiếng nhất là Đền Tiên La thuộc thôn Đoan Hùng, Hưng Hà, Thái Bình. Đây là nơi nhân dân chịu ơn chầu và cũng là nơi di thể chầu trôi về, nên ở đây chầu còn được tôn xưng là Mẫu Tiên La. Tại đây vẫn còn lưu truyền câu chuyện khi Chầu Bát đã thác hóa ở trên ngàn, chầu còn hóa phép đốn cây rừng, đóng thành bè gỗ theo dòng trôi về bến sông gần đền Tiên La rồi báo mộng cho người thủ đền cùng dân quanh vùng ra đón bè về để tu sửa đền.
Đền Tiên La (Thái Bình)
Đền Tiên La tọa lạc tại thôn Tiên La, xã Đoan Hùng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình trên một diện tích khoảng 4000 m. Mặt trước đền hướng ra phía con sông Tiên Hưng.

Đền Tiên La (Thái Bình)
Tại đây là nơi nhân dân chịu ơn chầu cũng là nơi di thể chầu trôi về, nên ở đây chầu còn được tôn xưng hẳn là Mẫu Tiên La, nên cũng có khi gọi là Chầu Bát Tiên La. Tại đây vẫn còn lưu truyền câu chuyện: khi Chầu Bát đã thác ở trên ngàn, chầu còn hóa phép đốn cây rừng, đóng thành bè gỗ theo dòng trôi về bến sông gần đền Tiên La rồi bà báo mộng cho người thủ đền cùng dân quanh vùng ra đón bè về để tu sửa đền.
Đền Tân La (Hưng Yên)
Đền Tân La ở Dốc Lã thuộc tỉnh Hưng Yên là nơi Chầu đóng quân. Đền Tân La tọa lạc trên khu đất rộng với những tán cây cổ thụ xum xuê thuộc địa phận thôn Đoàn Thượng – xã Bảo Khê – thị xã Hưng Yên. Nơi đây, cây cối rậm rạp, hầu hết có niên đại hàng trăm năm tuổi, giống như một khu rừng nhỏ nằm giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đền thờ Bát Nàn tướng quân Vũ Thị Thục, một vị tướng xuất sắc trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng chống lại quân Đông Hán xâm lược nước ta trong thời kỳ Bắc thuộc.

Đền Tân La (Hưng Yên)
Đền Chầu Tám Đồng Mỏ, thuộc thị trấn Đồng Mỏ, tỉnh Lạng Sơn tương truyền là nơi Chầu hóa.
Đền Tiên La (đền vọng) hay còn gọi là Đền Tám Gian tại đường Lê Lợi, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng cũng là nơi di hài Chầu trôi về, tại đây Bà còn được tôn xưng với tên Chúa Bát Nàn.
Ngoài ra còn rất nhiều đền khác trong tỉnh Thái Bình và nơi quê nhà của Chầu ở tỉnh Vĩnh Phúc.

Đền Chầu Tám Đồng Mỏ
Ngày khánh tiệc Chầu Tám Bát Nàn
Ngày tiệc của Chầu Bát là ngày 17/3 âm lịch (là ngày Chầu hóa)
Hầu giá Chầu Tám Bát Nàn
Chầu Bát là vị thánh chầu thường hay giá ngự về đồng, nhất là trong những dịp tiệc vui hoặc khi về Đền Chầu. Khi ngự đồng, Chầu thường mặc áo màu vàng, đầu đội khăn đóng (khăn vành dây) màu vàng, có dải von hoặc vỉ lét thắt dải buộc, sau lưng dắt kiếm và cờ lệnh như khi ra trận. Chầu là võ tướng, vì vậy sau lễ tấu hương và khai quang, múa kiếm cờ như quan lớn.

Bản văn Chầu Tám Bát Nàn
Phúc lành có được duyên nay
Về đây mới biết chuyện ngày xa xưa
Có tâm Phật Mẫu dẫn đưa
Con về Chầu Bát quỳ thưa lễ người.
Đủ đầy trái ngọt, hoa tươi
Lòng con thành kính xin người chứng tâm
Gió đưa thoảng mát hương trầm
Đền Chầu tĩnh tọa sơn lâm ngút ngàn.
Sắc phong “Đại tướng Bát Nàn”
Danh tên nữ tướng, Vương ban lưu truyền.
Rằng xưa thời trước công nguyên
Chầu là tiên nữ trên thiên giáng trần
Mười lăm tháng tám giờ dần
Làm con họ vũ, tảo tần nết na
Lớn lên xinh đẹp tài hoa
Đoan trang dáng ngọc sương sa cửu tuyền.
Trời se số phận tơ duyên
Lấy người họ Phạm Danh Hương cũng là
Tình nồng đang thắm mặn mà
Ngờ đâu tan vỡ lệ nhòa trời xanh
Oan tình sao phận mỏng manh
Phải đâu nhan sắc mà thành chia ly.
Nguyên do Tô Định mê si
Yêu nàng không được mới thì ra tay
Hại đi hai mệnh thân này
Chồng, cha nghĩa nặng ơn dày đã xa
Oan này nợ nước thù nhà
Chuyên binh luyện sĩ để mà cứu dân
Ngày đêm luyện tập chuyên cần
Đợi ngày tụ nghĩa xa gần xem sao
Trưng Vương khởi nghĩa cờ đào
Chầu theo phụng sự cùng vào quân binh
“Lê Chân” thống lĩnh đội hình
Dẹp tan Tô Định quân binh tụ về
Chầu đi tu ở chùa quê
Tiên La-niệm Phật say mê tháng ngày
Cầu Trời đất nước đổi thay
Dân không cực khổ tâm này mới yên
Dã tâm giặc chẳng từ hiền
Khởi binh xâm lược cậy quyền mạnh đông
Vận nhà đất nước chờ trông
Ai người ra giúp để trông cậy nhờ
Hai bà Trưng đã dựng cờ
Nữ nhi Chầu cũng chẳng mờ lòng trung
Quyết đem tài trí anh hùng
Đánh quân Mã Viện, kiên trung ngoan cường
Máu đào áo đỏ thê lương
Thế quân giặc mạnh khó lường ai hay
Thôi thì đâu tiếc thân này
Bao năm trần giới một ngày về thiên
Chầu hóa về khắp mọi miền
Dân ơn dựng lập đền thiêng phụng thờ
Phượng Lâu – Vĩnh Phú là quê
Hưng Yên – Dốc Lã dựng cờ đóng quân
Thái Bình – Tiên La cũng gần
Hải Phòng Đền vọng di thân dạt về
Đền thờ Chầu khắp miền quê
Linh thiêng tố hảo Chầu về hiển linh
Vân khăn đai thắt quanh mình
Kiếm vàng cờ lệnh quân binh rõ ràng
Phất cờ quân xếp đôi hàng
Lệnh truyền kiếm chỉ, trông càng uy linh
mấy ai rõ được sự tình
Tháng ba mười bẩy hóa sinh cõi trời.
Địa danh Đồng Mỏ chính nơi
Lưu truyền sự tích cho đời mai sau.
Về Chầu đường chẳng xa đâu
Ngã ba thị trân đường tàu ngang qua,
Đồi cao trên đỉnh cung tòa
Uy linh tố hảo thật là trang nghiêm,
Long xà hổ phục đôi bên
Nhất tâm nhất đạo tìm lên mà về.
Đền Chầu cảnh đẹp say mê
Ai lên tìm đến ra về chẳng quên
Muốn cho tốt đẹp dài bền
Về Chầu mà nguyện sớ tên mà trình
Chầu về hiện giáng uy linh
Độ ban tài lộc đời mình đẹp tươi
Ước mong tâm nguyện tròn mười
Vinh sang cuộc sống đẹp tươi cho mình
Phải đâu duyên phận hữu tình
Về Chầu được phúc cho mình sáng ra
Quanh năm tần tảo ở nhà
Không bằng một buổi đi xa về Chầu
Đức tin mãi nguyện một câu
A-Di-Đà-Phật in sâu tâm mình.
Khám phá thêm trong chủ đề Tứ Phủ Chầu Bà:
Xem tất cả bài viết trong chủ đề →Bài viết liên quan
Những Lời Phát Nguyện Và Huấn Đồng Trước Khi Bắc Ghế Hầu Thánh
25/5/2026
Những lời phát nguyện và huấn đồng trước khi bắc ghế hầu thánh - 3 điều sám hối, 5 giới định trong tín ngưỡng Đạo Mẫu.
Xoay Khăn Sau Khi Mở Phủ
25/5/2026
Xoay khăn sau khi mở phủ - giải đáp thắc mắc về việc xoay khăn trong tứ phủ cho các đồng tân linh mới.
Mộc Ân Thanh Đồng Dẫn Trình Nghi Thức
25/5/2026
Mộc ân thanh đồng dẫn trình nghi thức - tài liệu sưu tầm về nghi thức dẫn trình thanh đồng trong tín ngưỡng Đạo Mẫu.
